Author Topic: Vài dòng về các nhà thơ VN  (Read 18376 times)

0 Members and 1 Guest are viewing this topic.

Offline Casanova

  • Juventini
  • *
  • Posts: 500
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #20 on: March 31, 2006, 05:48 PM »
Huhuhu,anh nào biết jì đâu , tìm trên net thôi. Mày đừng nhờ vả anh quá kẻo anh tính công lấy tiền .  


Xuân Quỳnh[/b][/color]



Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942 tại xã La Khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Sơn Bình, trong một giai đình công chức. Thuở nhỏ, mồ côi mẹ từ sớm, ở với bà nộị

Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ tiêu biêu của thế hệ nhà thơ sinh ở thập kỉ 40 và "rỡ ràng" với những tác phẩm thơ "trẻ" ở thập kỷ 60.

Cũng giống như hầu hết các nữ sĩ Đông Tây Kim Cổ, Xuân Quỳnh làm thơ cốt để diễn tả cuộc sống của chính mình về tất cả mọi phương diện: những khát khao, những tình cảm, những suy nghĩ, và "sự sống" của một người phụ nữ. Vì lẽ đó hầu hết thơ của chị đều là thơ chữ tình. Đất nước, thiên nhiên, thời đại đều được phản ánh vào thơ chị thông qua cái lăng kính chữ tình đó.

Chị đã định hướng dứt khoát cho con đường sự nghiệp của mình: đó là nghiệp thợ Chị quyết định chấm dứt một cuộc hôn nhân mà chị biết là mình đã sai lạc để xây dựng tình yêu và hôn nhân với "chú đại bàng non trẻ" Lưu Quang Vũ mà chị biết chắc trong đó có tình yêu và hạnh phúc đích thực.

Chẳng dại gì em ước nó bằng vàng
Trái tim em, anh đã từng biết đấy
Anh là người coi thường của cải
Nên nếu cần, anh bán nó đi ngaỵ..

(Tự hát).

Với những dòng thơ sau đây, Xuân Quỳnh thổ lộ tâm tư nhưng chính là để tự khẳng định mình trước một người chồng mà chị biết anh ta vốn không phải là hạng "gà mờ"

Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Biết khao khát những điều anh mơ ước.
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết được anh yêụ


Ai quen biết Xuân Quỳnh, hẳn sẽ để ý đến nét khác lạ nơi tay chị: một đôi bàn tay như già hơn khá nhiều so với gương mặt. Một gương mạt xinh đẹp, trẻ hơn tuổi, với cặp mắt tinh anh, duyên dáng, như rất dễ mỉm cười, che hết mọi phiền lọ Gương mặt phụ nữ đẹp đến nỗi khó tin đấy lại là người làm thợ Mà người phụ nữ đẹp và làm thơ ấy lại có đôi bàn tay giống như gương mặt Trương Chi! Chính Xuân Quỳnh đã không ít lần viết về bàn tay mình, ví dụ mấy câu này trong giọng dãi bày với người yêu:

Bàn tay em ngón chẳng thon dài
Vệt chai cũ, đường gân xanh vất vả
Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ
Hái rau dền rau dệu nấu canh
Tập vá may, tết tóc cho mình
Rồi úp mặt trên bàn tay khóc mẹ


Đôi bàn tay tiết lộ số phận. Một số phận đã từng không may mắn, dường như luôn luôn phải "đánh đu" với cuộc sống, với hạnh phúc. Cũng là trớ trêu chăng, con người có số phận như thế lại mang trong mình nhiều khao khát. Trong một bài thơ viết năm 1962, Xuân Quỳnh viết rằng ngày bé mình chỉ mơ đến rằm tháng tám để được vui chơi với bạn bè dưới trăng thụ "Khi lớn khôn ước mơ cùng cháy bỏng": mơ ước "thành nhà thơ ca ngợi cuộc đời", đưa thơ cùng du hành vũ trụ, sưởi ấm vùng trăng lạnh, đưa thơ đi cập bến các vì saọ.. "Như lòng ta chẳng bao giờ nguôi khát vọng - Biết bay rồi ta lại muốn bay cao".

Giàu trí tuệ, nên cũng như Hồ Xuân Hương xưa kia, Xuân Quỳnh đã đóng vai trò tham mưu đắc lực, đã san sẻ "cái khôn" cho chị em cùng giới, để đối đáp và xử sự với phái mày râu:

Những cái chính chúng ta thường chả nói
Mà bọn con gái mình hay nói xấu nhau
Bọn con trai nghe lỏm đôi câụ..
Họ khinh chúng ta và lời cửa miệng:
"Chuyện đàn bà"

Ta yêu người con trai không phải vì mình
Mà họ yêu ta vì họ yêu chính họ
Được yêu hai lần, họ cao lên một bậc
Ta không được yêu cảm thấy thấp dần đi
Vì chính ra cũng chẳng yêu tạ.."

(Thơ viết cho mình và những người con gái khác)

Xuân Quỳnh nhận thức được tính bi kịch vĩnh cửu của cuộc sống: đó là sự ngắn ngủi của đời ngườị Hình như chị còn tiên lượng được số phận của mình: Rất có thể Xuân Quỳnh - đoá hoa quỳnh mùa xuân - sẽ chỉ nở và toả hương được vài giờ trong đêm tối rồi tàn lụị Bởi thế, chị đã sống hối hả, nồng cháy, sống hết mình với cuộc đời, với thơ và tình yêu, với hạnh phúc và gia đình, như sợ tất cả những điều quá ư tốt đẹp ấy sẽ vụt qua như ánh chớp.

Chi chút thời gian từng phút từng giờ
Như kẻ khó tính từng hào keo kiệt
Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết
Hôm nay non, mai cỏ sẽ già ...

(Có một thời như thế)

Chị cũng là người biết giữ gìn và biết tận hưởng hạnh phúc cuộc sống ở mức tối đa có thể được hưởng. Xuân Quỳnh chính là đỉnh cao của những con người "nhân bản chủ nghĩa" thời hiện đạị

Thơ tình tôi viết cho tôi
Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều
Vẫn còn nguyên vẹn niềm yêu
Như cây tứ quí đất nghèo nở hoạ
(Thơ tình tôi viết).

Mảng thơ đặc sắc nhất của Xuân Quỳnh chính là mảng thơ về tình yêụ Điều gì đã làm nên sự đặc sắc ấỷ

Trước hết vì Xuân Quỳnh có một "nhân bản yêu đương" cực kì mãnh liệt, là một người con gái có thể "sống chết vì tình". Dạng phụ nữ như Xuân Quỳnh, đã từng được như thi hào Nguyễn Du mô tả:

Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành,
Lại mang lấy một chữ tình
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong,
ở không yên ổn, ngồi không vững vàng,
Ma dẫn lối, quỉ đưa đường
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đị..


Xuân Quỳnh không giấu giếm bản chất ấy của mình:

... Nếu tôi yêu được một người
Tôi yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm
Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay đắng...


Xuân Quỳnh là người hành động nên chị nhất định không chấp nhận kiểu sống "đói lòng ngồi gốc cây sung". Trái lại chị đã "đi khắp chốn tìm người tôi yêu", đồng thời gạt bỏ những gì chỉ là "mạo danh tình yêu". Và khi đã đạt được tình yêu rồi thị chị sống với tất cả chiều sâu thăm thẳm của trái tim:

Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.

(Sóng)

Khi anh nói yêu em, trái tim em đập chừng mạnh qúạ
Mạnh đến nỗi em tưởng là nghe rõ
Tiếng tim anh đang đập vì em.
Em yêu anh, yêu anh như điên ...

Khác hẳn những người đàn bà "sống trong vương quốc của tình yêu mà không biết được biên giới của vương quốc ấy". Xuân Quỳnh là một phụ nữ không những có khát vọng mà còn có đủ khả năng đi đến tận cùng biên giới và tận cùng đáy sâu của vương quốc tình yêụ Phải chăng ở những điểm tận cùng đó mà những câu thơ tuyệt tác đã ra đời:

Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâụ

Ngày nào không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ...

(Thuyền và biển).

Một điều nổi bật trong thơ Xuân Quỳnh là chị không chỉ yêu say đắm mà còn đặt tình yêu ấy lên ngai vàng của sự tôn thờ tuyệt đốị Xuân Quỳnh rất có lí: ở cõi đời nàỵ Tình yêu chẳng phải là điều thực sự đáng tôn thờ hay saỏ Vả chăng. Xuân quỳnh, bằng tất cả những phẩm chất hội tụ trong con người mình, chị đã đạt được một tình yêu đáng tôn thờ. Người chồng, trong mắt Xuân Quỳnh, lúc nào cũng như một người tình mà chị yêu đắm đuối, cũng cảm thấy như "chàng" có thể vuột khỏi tay:

Tới thăm anh rồi em lại ra đi
Đôi mắt lo âu, lời âu yếm xẻ chia
Lúc anh đến, anh đi thành quá khứ
Anh thuộc về những người ngoài cánh cửa

(Thời gian trắng)

Anh, con đường xa ngái
Anh, bức vẽ không màu
Anh, nghìn nỗi lo âu
Anh, dòng thơ nổi gió...
Mà em người đời thường
Biết là anh có ở!

(Anh)

Cũng vì tôn thờ tình yêu thái quá, có lúc Xuân Quỳnh đã có linh cảm chẳng lành về hạnh phúc của mình. Thơ tình của chị đã đã đẩy tình yêu lên tầm bi kịch: Tình yêu tuyệt đích có thể sẽ kết thúc cách nào đó thật bất ngờ, trước khi tuổi già sộc đến:

Đọc bài thơ yêu em thấy sự chia xạ
Và bỗng nhiên em lại bơ vơ,
Tay vẫn vụng, trán dô ra như trước...

(Thơ viết cho mình)

Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố

(Thuyền và biển)

Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh thật là nồng nàn, sâu sắc và đượm nỗi thoảng thốt lo âu, tất cả được diễn đạt bằng một ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hầu như không cách điệụ Đó là thứ thơ đạt tới tầm cao của nghệ thuật nhưng vẫn dễ hiểu với đông đảo quần chúng, vẫn có thể gây được những niềm xúc động khác thường:

Em trở về đúng nghĩa
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồị


Và rồi cái điều bất ngờ nhất đã xảy ra với Xuân Quỳnh. Chị qua đời ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương, tỉnh Hải Hưng cùng chồng là Lưu Quang Vũ và con trai út Lưu Quỳnh Thơ (13 tuổi) để lại biết bao thương tiếc cho tất cả những ai yêu thơ chị, yêu kịch Lưu Quang Vũ.

Thế nhưng chính sự kết thúc ấy đã khiến cho tình yêu mà chị tôn thờ trở thành bất tử, đã làm Xuân Quỳnh và Thơ Xuân Quỳnh dường như càng đẹp ngời thêm lên bởi một vừng sáng kì diệu của huyền thoạị



CÁC TÁC PHẨM CHÍNH:
THƠ: - Tơ tằm - Chồi biết (In chung)
- Hoa dọc chiến hào
- Gió Lào cát trắng
- Lời ru trên mặt đất
- Sân ga chiều em đi
- Tự hát
- Hoa cỏ may (Giải thưởng văn học năm 1990 của Hội nhà văn).
SÁNG TÁC CHO THIẾU NHI:
- Cây trong phố - Chờ trăng (tập thơ - In chung)
- Bầu trời trong qủa trứng (tập thơ - Giải thưởng văn học năm 1982 - 1983 của Hội nhà văn)
- Truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ)
- Bao giờ con lớn (tập truyện)
- Chú gấu trong vòng đu quay (tập truyện)
- Mùa xuân trên cánh đồng (tập truyện)
- Bến tàu trong thành phố (tập truyện)
- Vẫn có ông trăng khác (tập truyện)

 
[div align=\\\"right\\\"]
Trí thân trực dục cao thiên nhận;
Xử thế tu đương hạ nhất tằng.
 
[/div][/b]

Offline Casanova

  • Juventini
  • *
  • Posts: 500
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #21 on: March 31, 2006, 05:53 PM »
Chủ đề thơ Xuân Quỳnh thường là những vấn đề nội tâm: kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu gia đình... Hiện thực xã hội, sự kiện đời sống hiện diện như một bối cảnh cho tâm trạng. Do vậy thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng cá nhân nhưng không là thứ tháp ngà xa rời đời sống. Thơ chị là đời sống đích thực, đời sống của chị trong những năm đất nước còn chia cắt, còn chiến tranh, còn nghèo, còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ nữ, người phụ nữ làm thơ thường ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn. Xuân Quỳnh không làm ra thơ, không chế tạo câu chữ mà chị viết như kể lại những gì chị đã sống, đã trải. Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhà thơ hiện đại cùng thời chính là ở khía cạnh nội tâm đó. Thơ chị là thơ mang tâm trạng. Thời ấy nhiều bài thơ thiên về phản ánh sự kiện, cốt để được việc cho đời, còn tâm trạng tác giả thường là tâm trạng chung của xã hội, vui buồn tác giả hòa trong vui buồn chung của công dân. Tâm trạng thơ Xuân Quỳnh là tâm trạng nảy sinh từ đời sống của chính chị, từ hoàn cảnh của riêng chị. Viết trên đường 20 là bài thơ chiến tranh nhưng lại mang nỗi lòng trăn trở xao xác của một người đang yêu. Có bài bề bộn chi tiết hiện thực như một ký sự. Những năm ấy, đúng là ký sự về đời sống Hà Nội những năm chống Mỹ, nhưng nó không thành ký mà vẫn là thơ do nỗi lòng riêng của tác giả đã tạo nên một mạch trữ tình xâu chuỗi các chi tiết rời rạc của ngày thường lại, tổ chức nó thành kết cấu của bài thơ. Xuân Quỳnh có tài tỏa lên các chi tiết ngẫu nhiên quan sát được từ đời sống một từ trường cảm xúc của nội tâm mình, biến các chi tiết đời trở nên thơ, có sức gợi, sức ám ảnh kỳ lạ (Trời trở rét, Không đề, Gió Lào cát trắng, Mùa hoa doi, Hoa cỏ may...)



Thơ Xuân Quỳnh giàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế nhưng lẩn khuất phía sau tình cảm ấy lại là tư tưởng có tính khái quát, triết lý (Cơn mưa không phải của mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loàìi người, Những người mẹ không có lỗi...) Đấy là những triết lý nảy sinh từ đời sống, nó có tính thực tiễn, giúp ích thật sự cho người đọc nhận thức và xử lý việc đời, không phải thứ triết lý tư biện, viễn vọng mà chẳng dùng được vào việc gì.



Đề tài, đối với Xuân Quỳnh, không phải là quan trọng. Điều chị quan tâm là chủ đề. Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có tứ, chị dùng tứ để bộc lộ chủ đề. Đây là một đóng góp đáng quý của Xuân Quỳnh vì giai đoạn ấy thơ chúng ta rất lỏng về tứ. Xuân Quỳnh có năng khiếu quan sát. Chị quan sát bằng tất cả giác quan và phong phú trong liên tưởng. Chi tiết vốn quen thuộc bỗng trở nên mới lạ, tạo ý vị cho câu thơ. Một màu cỏ mùa xuân: Cỏ bờ đê rất lạ/ Xanh như là chiêm bao. Tiếng mưa trên lá cọ: Mưa trên cọ bàng hoàng rồi vụt tạnh.



Cũng có thể vì có tài quan sát mà ở một số bài Xuân Quỳnh ham tả, ham kể. Kể có duyên nhưng vẫn làm loãng chất thơ. Những bài thơ dài của Xuân Quỳnh thường dài vì rậm chi tiết.



Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ hàng đầu của nửa cuối thế kỷ 20.




 ( Thông tin được sự giúp đỡ của Vietmedia và nhimviet )

VA : Anh chỉ giúp được thế thui, mày ko làm được bài thì tự trách mày nhá .
[div align=\\\"right\\\"]
Trí thân trực dục cao thiên nhận;
Xử thế tu đương hạ nhất tằng.
 
[/div][/b]

Offline Casanova

  • Juventini
  • *
  • Posts: 500
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #22 on: April 06, 2006, 03:34 PM »
Tác Giả Hoàng Cầm

Tên thật: Bùi Tằng Việt. Sinh năm 1922. Người huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Vùng quê nhiều di tích văn hóa vật thể và phi vật thể Kinh Bắc này đã có một ảnh hưởng sâu đậm, có thể nói là kiến tạo nên hồn thơ Hoàng Cầm.

Ông viết văn từ trước cách mạng, kịch thơ Hận Nam Quan xuất bản 1944, Kiều Loan viết từ 1942, diễn 1946. Về thơ, Hoàng Cầm trở nên quen biết từ bài thơ dài Bên kia sông Đuống (1948). Bên kia sông Đuống cùng với Nhớ của Hồng Nguyên, Tây tiến của Quang Dũng, Đồng chí của Chính Hữu... đã là những thành tựu tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp, đã là tiền đề, góp phần tích cực tạo nên phẩm chất trữ tình mới của thơ ca cách mạng. Đó là phẩm chất trữ tình kết hợp nhuần thấm cảm xúc có tính riêng tư của mỗi tâm hồn thi sĩ với hiện thực (bằng những chi tiết, sự kiện cụ thể) của đời sống đánh giặc. Tác giả cho biết bài thơ được hình thành sau lần được nghe người từ quê hương ra Việt Bắc kể chuyện quê nhà đánh giặc trong vùng địch hậu. Câu chuyện có tính thời sự nhưng đã đụng vào phần sâu thẳm và cũng thường trực nhất trong tâm trí Hoàng Cầm: Văn hóa Kinh Bắc. Bài thơ khá dài, 135 câu, đã được viết khá nhanh. Người đoûc hôm nay vẫn nhận thấy rõ cả bài thơ liền trong một mạch tâm sự, một gioûng kể, một sắc thái tâm trạng. Nền cảm xúc xao xuyến trong toàn bài ấy là niềm hoài niệm tình tự dân tộc. Kinh Bắc, cái nôi xưa của văn hóa Sông Hồng với núi Thiên Thai, với chùa Bút Tháp, với các địa danh vang voûng lòng người: chợ Hồ, chợ Sủi, Đông Tỉnh, Huê Cầu, với tranh Đông Hồ in trên giấy điệp, với hội hè đình đám, con gái, con trai... Một hoài niệm đau buồn, vì tất cả đã nằm trong tay giặc, tất cả đang bị giày xéo, thiêu hủy. Lòng yêu nước mang một chiều sâu văn hóa có sức cảm hóa lòng người Việt Nam rất rộng. Hoàng Cầm đã diễn tả các sự kiện thời sự bằng chất liệu văn hóa, bằng tình tự dân tộc. Câu thơ luôn luôn hướng vào nội tâm là vì vậy:

Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?


Thi liệu đó lấy từ nội dung tranh Tết Đông Hồ. Và đây là từ phong tục, tập quán hay đúng ra từ những kỷ niệm của tâm hồn người Kinh Bắc:

Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài

(...)

Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?


Câu hỏi về đâu như một điệp khúc thổn thức, xa xót sau mỗi lần nhắc tới những vẻ đẹp lộng lẫy, trong sáng, đầm ấm của văn hóa truyền thống. Hoàng Cầm sử dụng đúng chỗ sức gợi của những hình ảnh xưa, mà ở thời điểm ấy vẫn còn là thực tại: khuôn mặt búp sen, hàm răng đen, cặp môi cắn chỉ quết trầu, dăm miếng cau khô, mấy loû phẩm hồng...

Cách tận dụng sức gợi rất biểu cảm này, ở các giai đoạn sáng tác sau Hoàng Cầm vẫn phát huy nhưng không còn giữ được sự chừng mực như lúc này, nên nhiều khi sức gợi ấy chỉ còn tác dụng như những đường viền trang trí (Mưa Thuận Thành).

Một sinh hoạt văn hóa rất Bắc Ninh và nổi tiếng toàn quốc là hát quan hoû. Hát quan hoû để rất nhiều dư ba trong thơ Hoàng Cầm và đã tụ lại đậm đặc trong chùm thơ Tiếng hát quan hoû. Tác giả mượn thơ giới thiệu nguồn cội của mình, một nguồn cội lãng tử người quan hoû thời trước:

Mẹ chờ tua rua chỉ lối
Bỏ đi theo người trai
Chở thuyền hát lặn những đêm trăng
Mười năm sau ngày cưới
Bố nhớ lời ca, mê theo đám hội
Van người vợ trở về
...

Nhờ đó tôi ra đời.


Hoàng Cầm hơi giống Nguyễn Bính khi ông tắm hồn mình vào những đêm hội làng, những đêm đập sợi, dệt vải Tiếng hát trập trùng mái gianh phủ khói. Lúc đó ông tạo được không gian mộng thay cho đời thực, những chi tiết của đời sống được roûi bằng thứ ánh sáng kỳ ảo như ánh trăng, có sức làm ngân lên những kỷ niệm ấu thơ tổ tông truyền lại của mỗi lòng người Việt Nam, dù đang ở đâu, dù ở thuở nào:

Những mái nhà quần tụ dưới thôn
Gà gáy trong mùi khói rạ
Khoai nướng bốc thơm
Em bé trái đào hát ru lanh lảnh
Bếp nhà ai lửa ánh
Thoáng màu áo trắng sau rặng tre thưa.


Không gian thơ Hoàng Cầm là không gian hoài cổ đất xưa Kinh Bắc. Đó là vị riêng của Hoàng Cầm. Khi chỉ cần ít nét, khi phải rất nhiều câu, nhưng bao giờ ông cũng muốn tạo không gian mộng ảo. Đoûc ông nên chuồi theo cảm xúc, sống vào không gian ông tạo dựng mà tìm thơ, đừng đòi nhiều ở ông sự hàm súc có tính tư tưởng.
[div align=\\\"right\\\"]
Trí thân trực dục cao thiên nhận;
Xử thế tu đương hạ nhất tằng.
 
[/div][/b]

Offline Casanova

  • Juventini
  • *
  • Posts: 500
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #23 on: April 07, 2006, 10:34 AM »
Tác giả Huy Cận :

 Huy Cận (sinh năm 1919) bạn "nối khố" của nhà thơ Xuân Diệu, cặp thi sĩ này hầu như luôn đồng hành với nhau suốt những chặng đường thơ, kể từ thời kỳ Thơ Mới.
Nếu Xuân Diệu có thiên hướng rõ rệt về thơ tình, và đã trở thành Nhà Thơ Tình đứng vào bậc nhất của thơ Việt Nam hiện đại, thì Huy Cận là nhà thơ có bút lực vạm vỡ với nhiề u mảng đề tài đa dạng, không ngoại trừ cả thơ tình.
Nhà thơ xứ Nghệ chắc chắn đã hấp thụ được tinh hoa văn hó, tinh thần của quê hương xứ sở mình - một vùng đất "địa linh nhân kiệt", từ xưa lừng danh bởi đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước.
Nếu như chất thơ phóng lãng, cao diệu và kì tuyệt thuộc về các thi nhân đất Bình Định, và chất thơ lãng mạn của cả "kẻ chợ" lẫn "người quê" thuộc về các thi nhân xứ Bắc, thì chất thơ "lục nạc" như đất thịt, mạnh mẽ, chân thực như lưỡi cày xới đất, là của các nhà thơ xứ Nghệ như Huy Cận. Những tinh hoa của quê hương xứ sở kết tinh vào Huy Cận chủ yếu ở hai điểm: tư tưởng và nghệ thuật.
Thật vậy, từ thời kỳ Thơ Mới trở đi, đại bộ phận các nhà thơ của chúng ta thường nghiêng về biểu đạt những cảm xúc cá nhân, những tình cảm gần gũi. Chỉ ở một số ít nhà thơ như Thế Lữ, Huy Cận... chúng ta có? thể ? tìm thấy ít nhiều những tư duy sáng tạo, những viên gạch nhỏ từng được thế giới này dùng để xây nên toà? lâu đài tư tưởng đồ sộ của nhân loại.
ở Huy Cận, mỗi khám phá của tư tưởng lại tạo ra một tứ thơ hay. Tuy là thi sĩ của một thời, nhưng hình như Huy Cận có ý? thức vươn tới những đề tài muôn thuở, muốn hoà nhập vào với cái Đẹp vĩnh cửu, muốn tìm? chân lý cuộc sống ở tận "ngọn nguồn lạch sông":
Cây với người, xưa có lẽ láng giềng
Đây đó cũng ngẩng đầu lên kiếm Gió.
Nằm trong tiếng nói yêu thương
Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời.
Thâu qua cái ngáp dài vô tận
Hình ảnh lung linh vũ trụ tàn...
[div align=\\\"right\\\"]
Trí thân trực dục cao thiên nhận;
Xử thế tu đương hạ nhất tằng.
 
[/div][/b]

Offline Casanova

  • Juventini
  • *
  • Posts: 500
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #24 on: April 07, 2006, 10:38 AM »

 Tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ :


Tên thật cũng là bút danh, sinh ngày 18-9-1949 tại quê gốc huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Trong kháng chiến chống Mỹ 1965-1975, Lâm Thị Mỹ Dạ làm việc ở Hội Văn Nghệ Quảng Bình và bắt đầu làm thơ. Quảng Bình khi ấy là vùng chiến sự ác liệt nhất miền Bắc. Chặng thơ đầu tiên của Lâm Thị Mỹ Dạ lấy cuộc sống đánh giặc gian lao đó làm nội dung. Đó cũng là đặc tính chung của cả nền thơ. Nét riêng của cây bút trẻ Mỹ Dạ khi ấy là không đuổi theo sự kiện chiến tranh, thơ hông ôm đồm chi tiết hay sự tích chiến đấu. Hiện thực phải rọi qua lăng kính tâm hồn và thủ pháp nghệ thuật mới thành thơ trên trang giấy. Ca ngợi cô gái lấy thân mình đánh lạc hướng bom giặc để cứu đường, bà không viết trực tiếp sự kiện anh hùng ấy. Bài thơ Khoảng trời hố bom không có tiếng bom đạn đã là sự lắng lại của cảm xúc và nhận thức. Cô gái đã thành những làn mây trắng và vầng mặt trời sáng chói in trên mặt nước cái hố bom đã giết cô. Lâm Thị Mỹ Dạ ca ngợi ý chí hy sinh chiến đấu của người kháng chiến lại bằng chính nỗi nhớ cảnh thanh bình của họ. Tính thiện thắng cái ác bằng chính sự tồn tại của nó:

Đêm qua bom nổ trước thềm
Sớm ra trời vẫn ngọt mềm tiếng chim
Nghe hương cây vội đi tìm
Hái chùm ổi chín lặng im cuối vườn.


Nhiều nét đẹp vĩnh cửu của thiên nhiên và tâm hồn con người hiện diện trong thơ chiến tranh của Mỹ Dạ: tình mẹ con, lòng tin vào bản thân, sự hồn nhiên của tạo vật... Ngay từ những bài thơ đầu tay ấy đã có thể thấy tính hướng nội của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.

Thơ mang những nét của bản sắc tâm hồn người viết, rõ nhất là tính phụ nữ, nét dịu dàng của cảm xúc, cách khai thác, cách lọc tìm chất thơ trong đời sống. Cùng với năm tháng, thơ Mỹ Dạ càng tìm sâu vào chính tâm hồn bà, tạo nên một phẩm chất trữ tình khá thuần khiết. Đến tập thơ Đề tặng một giấc mơ (xuất bản 1998) Lâm Thị Mỹ Dạ đã như chú ngựa nhớ mặt trời thì ngửi trong đất đai tìm hơi ấm vương còn. Bà 'đánh hơi' trong mọi ngóc ngách tâm hồn mình để nhận ra đời. Đời của một con người in đỏ dấu ấn của thời người ấy sống. Những cảm xúc của Lâm Thị Mỹ Dạ là cảm xúc chung có tính quy luật của loài người nhưng nó trở thành mới lạ thuyết phục ta bởi tính cá thể cụ thể.

Lâm Thị Mỹ Dạ có một tuổi thơ vất vả. Dấu vết còn in trong giọng thơ. Giọng thơ luôn phảng phất buồn. Giờ đây vào tuổi lớn ngoảnh lại/ giật mình/ hoang vắng/ Bởi tôi đã gieo tôi cằn kiệt không ngờ. Thảng thốt nhìn năm tháng qua mau, luyến tiếc thời thanh niên sôi nổi được thể hiện như một nhận thức, một giác ngộ về đời người, tưởng thế mà không phải thế:

Tưởng tương lai vẫn còn dài rộng lắm
Nào đâu hay đã gần hết chuyến đò
(...) Tưởng là vậy, tưởng là mình gan góc
Nào đâu ngờ nước mắt cạn đêm nay.


Nước mắt nhưng không phải sự than khóc van xin mà là sự hiểu mình, nhận ra cái sinh linh mỏng mảnh dễ vỡ của chính mình, nhận ra cái ngắn dài của đời người Mới ban mai đã chiều nhạt nắng. Sóng vỗ vào/ Sóng lùi ra/ Từng đợt/ Hỏi trời xa/ Ai lấy hết tuổi mình. Nỗi đau nhất của người, theo Mỹ Dạ, là sự cô đơn. Chị cảm nhận nỗi đau ấy bằng chính cuộc đời mình. Nhà thơ này diễn tả sự cô đơn khá phong phú, khi mượn thiên nhiên hoa lá (Một quỳnh ta) khi trốn vào trò chơi con trẻ (Ném thia lia) khi hiện diện trong cõi một mình. Cô đơn mang tính triết học, cô đơn trong tình yêu. Tâm trạng cô đơn thường bắt nguồn từ lòng yêu đời sâu sắc. Thơ cũng dùng nó để diễn tả một cách xót xa lòng yêu đời. Người phụ nữ trong thơ Mỹ Dạ có lúc muốn lấy trái tim mình làm nghĩa trang chôn những kỷ niệm, muốn trên y phục mình chỉ là một màu đen khâm liệm, nhưng chỉ một cơn gió xuân choàng qua vai, nàng đã không im lặng được.

Người đàn bà nói một câu rất nhỏ
Chỉ để mình nghe
Chỉ để gió nghe


Nhưng bạn đọc chúng ta nghe được. Biểu tượng thơ hơi điệu đà (nói chung thơ Mỹ Dạ hơi điệu) nhưng cũng đủ cho ta thấy nỗi khát khao và niềm hy vọng vào cuộc đời của bà. Mỹ Dạ nói Tạ từ làm ta xót thương, nói ao ước làm ta chói lòng. Ao ước làm con thuyền còn ra khơi được (Trước Nha Trang). Bà cảm nghe thân phận như cái vỏ ốc Trống rỗng hết bao điều quên nhớ, như giọt sương Rơi không thành tiếng... như con sông không tìm thấy biển vì... làm gì có biển (!), Nhưng sau tất cả là một sức phấn đấu nội tâm rất lớn. Phấn đấu ở chỗ xác nhận chất tươi xanh vốn có của tâm hồn chọi lại với mọi già cỗi Ta thành trái mà hồn còn như lá. Xác nhận kích cỡ người đàn bà thời nay: muốn anh thành cao, thành rộng, thành sâu sắc thì em phải nhỏ như búp bê. Và nếu ta là cái vỏ ốc rỗng thì hãy ném ta vào biển để ta hiểu được muối mặn - hiểu giọt mồ hôi chát đắng nỗi trần gian. Người đàn bà tuổi Sửu này (Kỷ Sửu) cảm tạ trời đất lúc mùa xuân:

Trâu ăn bao nhiêu cỏ
Mùa xuân lại dâng đầy
Cám ơn trời che chở
Cho trâu hoài thơ ngây.  
[div align=\\\"right\\\"]
Trí thân trực dục cao thiên nhận;
Xử thế tu đương hạ nhất tằng.
 
[/div][/b]

Offline Casanova

  • Juventini
  • *
  • Posts: 500
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #25 on: April 07, 2006, 10:40 AM »
Tác giả Lưu Trọng Lư:

Lưu Trọng Lư là tên thật, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1912 tại Cao La Hạ, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học.

Học trường Quốc Học Huế đến năm thứ ba thì bỏ ra Hà Nội học tư, rồi bỏ đi làm thơ, làm báo, viết văn.
Chủ trương Ngân Sơn Tùng Thư tại Huế năm 1933-1934. Sau 1954, ông làm vụ trưởng Vụ Sân Khấu Bộ Văn Hóa, và là Tổng thư ký Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu Việt Nam.

Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Tiếng Thu (1939), Người Con Gái Sông Gianh (1966), Từ Đất Này (1971), Hồng Gấm. Tuổi Hai Mươi (kịch thơ, 1973).

Mặc dù Lưu là một trong những người cổ động cho Thơ Mới ồn ào nhất, đọc thơ ông, người ta vẫn có cảm tưởng nó chẳng mới bao nhiêu. Thơ Lưu Trọng Lư vẫn là một khúc đàn xưa, giàu tình cảm lẫn nhạc điệu với những rung động chân tình, dễ gây ấn tượng trong người đọc.

Nhận xét của Hoài Thanh - Hoài Chân: "... thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta".
[div align=\\\"right\\\"]
Trí thân trực dục cao thiên nhận;
Xử thế tu đương hạ nhất tằng.
 
[/div][/b]

Offline Casanova

  • Juventini
  • *
  • Posts: 500
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #26 on: April 07, 2006, 10:42 AM »
Tác giả Nguyên Sa:

Nguyên Sa tên thật Trần Bích Lan, sinh năm 1932 tại Hà Nội.

Du học Pháp từ thuở niên thiếu và đậu cử nhân văn chương, Nguyên Sa về Việt Nam sau hiệp định Genève năm 1954 và làm ngạc nhiên nhiều người vì khả năng sử dụng tiếng Việt tuyệt vời của ông. Ông sinh sống bằng nghề giáo sư dạy Triết và rất thành công.

Thơ Nguyên Sa trữ tình, lãng mạn, giàu nhạc điệu, chất chứa sáng tạo trong ngôn ngữ cũng như hình ảnh, đôi khi pha lẫn thi tứ triết học.

Ông sang Mỹ năm 1975 và từ đó làm báo. Ông đã từ trần ngày 18-4-1998 tại Orange County, nam California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 66 tuổi.

Tác phẩm tiêu biểu: Thơ Nguyên Sa (1958), các tập biên khảo Quan Điểm Văn Học và Triết Học, Một Bông Hồng cho Văn Nghệ..., truyện Gõ Đầu Trẻ, tập truyện Mây Bay Đi.
[div align=\\\"right\\\"]
Trí thân trực dục cao thiên nhận;
Xử thế tu đương hạ nhất tằng.
 
[/div][/b]

Offline Casanova

  • Juventini
  • *
  • Posts: 500
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #27 on: April 07, 2006, 10:45 AM »
Tác giả Nguyễn Bính:

 
Tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918 tại làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bảng, tỉnh Nam Định (nay là Hà Nam Ninh). Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, tự học ở nhà, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi.

Nguyễn Bính được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm Hồn Tôi.

Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam, Ty văn hóa thông tin Nam Hà. Năm 1958, Nguyễn Bính làm chủ bút báo Trăm Hoa.

Ông mất ngày 20 tháng 1 năm 1966 tại Hà Nội.

Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang (1940), Tâm Hồn Tôi (1940), Hương Cố Nhân (1941), Mây Tần (1942), Người Con Gái Ở Lầu Hoa (1942), Tình Nghĩa Đôi Ta (1960), Tuyển Tập Nguyễn Bính (1984); kịch thơ Bóng Giai Nhân (1942); truyện thơ Truyện Tỳ Bà (1944)...
Thơ Nguyễn Bính "chân quê": giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng, trong sáng, và hồn nhiên như ca dao trữ tình. Ông viết về làng quê qua lăng kính tình cảm lãng mạn, biểu lộ một tình quê, một hồn quê chân tình và gần gũi. Giáo Sư Lê Đình Kỵ có nhận xét về thơ Nguyễn Bính: "Nổi bật lên ở Nguyễn Bính là ca dao, ở cảm xúc lẫn tư duy, ở cả ý, tình, và điệu... "
[div align=\\\"right\\\"]
Trí thân trực dục cao thiên nhận;
Xử thế tu đương hạ nhất tằng.
 
[/div][/b]

Offline Casanova

  • Juventini
  • *
  • Posts: 500
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #28 on: April 07, 2006, 10:52 AM »
Nguyễn Du (1765 - 1820)

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Ông sinh trưởng trong một gia đình quý tộc, cha là Nguyễn Nghiễm quê gốc Tiên Điền Nghi Xuân, Nghệ An (nay là Hà Tĩnh), từng làm tể tướng triều đình. Mẹ là Trần Thị Tần con gái Kinh Bắc, bà là người có nhiều ảnh hưởng tới Nguyễn Du thủa niên thiếu. Trong cuộc đời mình, Thăng Long không phải là nơi ông đã sống những tháng năm dài nhất, nhưng đó lại là nơi lưu giữ nhiều kỷ niệm của một thời vui tươi êm ả. Xuất thân trong một gia đình quý tộc có thế lực vào bậc nhất ở Thăng Long lúc bấy giờ, tuổi ấu thơ của Nguyễn Du đã trôi qua trong vàng son nhung lụa. Sau khi cha mẹ mất, ông sống trong nhà Nguyễn Khản (anh cùng bố khác mẹ) cũng là một người tài hoa phong lưu rất mực ở kinh kỳ “trong nhà không lúc nào bỏ tiếng tơ tiếng trúc”.

Về sau, xảy ra tai biến với Nguyễn Khản, Nguyễn Du rời Thăng Long bắt đầu nếm trải cuộc sống phong trần: Hết làm quan võ ở Thái Nguyên lại về quê vợ ở Thái Bình, sau đó trở về quê cha ở Nghệ An, rồi lại vào Gia Định theo Nguyễn ánh, bị quân Tây Sơn bắt giam 3 tháng, sau đó ông trở về Tiên Điền cho đến khi Nguyễn ánh giành được ngai vàng, ông lại ra làm quan nhà Nguyễn. Từ đây con đường quan
chức của ông bắt đầu thăng tiến thuận lợi. Từ tri phủ huyện Phù Dung, đến tri phủ Thường Tín rồi lên Nam Quan tiếp sứ thần Trung Quốc, sau đó lại được phong Đông các học sĩ, hết làm giám hộ thi hương ở Hải Dương lại làm Cai bạ Quảng Bình rồi thăng lên hàng Chánh sứ đi Trung Quốc. Ông mất đột ngột ngày 10/8/1820 khi chưa kịp đi xứ Trung Quốc lần hai. Tác phẩm ông để lại gồm: Thanh Hiên Thi tập, Thác lời trai phường nón, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Nam trung tạp ngâm, Truyện Kiều, Bắc hành tạp lục, Văn chiêu hồn.

Nhắc đến Nguyễn Du người ta nghĩ ngay tới truyện Kiều, một kiệt tác thơ nôm mà ông đã dành nhiều tâm huyết để tạo nên. Tuy nhiên, truyện Kiều quá hay, quá nổi tiếng đến nỗi làm cho người ta quên đi một mảng sáng tác khác cũng không kém phần giá trị. Đó là những sáng tác bằng chữ hán viết về Thăng Long. Với mảnh đất này ông để lại cho hậu thế những vần thơ hiếm có.

Nguyễn Du viết về Thăng Long không nhiều nhưng rải rác trong Thanh Hiên thi tập, Bắc hành tạp lục, Nam trung tạp ngâm đều có hình ảnh Thăng Long. ở đó không chỉ có chuyện đời dâu bể của xã hội thị dân trải nhiều biến cố mà còn trực tiếp bộc lộ những cảm xúc và tâm trạng riêng của nhà thơ:

Tản lĩnh, lô giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Đồng du hiệp thiếu tần thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.
(Thăng Long I)


Những triết lý về cuộc đời chìm nổi biến hoá, về sự tranh đoạt của thế thái nhân tình đã làm bài thơ Thăng Long của ông trở thành tiếng vọng của đời sống. Bức chân dung hiện thực ấy sau này còn xuất hiện khá nhiều trong thơ ông. Có lẽ bắt nguồn từ những ngày sống ở kinh thành đã không chỉ giúp ông hiểu sâu cuộc sống của tầng lớp thượng lưu trong xã hội kể cả cách sống hào hoa lẫn lối ăn chơi phóng túng xa xỉ của họ mà còn cho ông có điều kiện tiếp xúc với giới ca kỹ cùng nỗi khổ của lớp người tài hoa bạc phận này. Tự coi là người “cùng hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã”, Nguyễn Du không chỉ đồng cảm xót thương mà còn trân trọng với cuộc đời đầy nước mắt của Tiểu thanh, cô Cầm. Điều băn khoăn của ông là “bách dư tam bách dư niên hậu - Thiên hạ hà nhân khắp Tố Như” cũng là không ngoài mong mỏi tìm thấy người đời sau những tấm lòng đồng điệu với nỗi đau nhân tình của ông và đó cũng là tiếng lòng ông đối với Thăng Long.
[div align=\\\"right\\\"]
Trí thân trực dục cao thiên nhận;
Xử thế tu đương hạ nhất tằng.
 
[/div][/b]

Offline Pinturicchio

  • Juventini
  • *
  • Posts: 1,108
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #29 on: April 08, 2006, 08:31 PM »
Tác giả Nguyễn Duy :

Tên thật Nguyễn Duy Nhuệ

Sinh năm 1948; quê quán Thanh Hóa

Làm thơ khá sớm, từ đầu thập niên 70, thơ ông đăng rải rác trên báo chí miền Bắc
giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ tổ chức tại Hà Nội 1972-1973 với những tác phẩm trong tập thơ Cát Trắng

Tác phẩm tiêu biểu:

các tập thơ Cát Trắng(1973), Phóng Sự 30-4-75(1981), Ánh Trăng(1984), Đãi Cát Tìm Vàng(1987), Mẹ và Em(1987); kịch thơ Em Sóng(1983); tiểu thuyết Khoảng Cách(1986); bút ký Nhìn Ra Bể Rộng Trời Cao(1986)...

một Nguyễn Huy Thiệp trong lãnh vực thơ ca (theo Nguyễn Hưng Quốc)
nhiều bài thơ ông bị cấm phổ biến vì bày tỏ thái độ bất mãn và phản kháng.

Nhận xét của Trịnh Công Sơn về Nguyễn Duy: ``Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó...''
Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Offline Pinturicchio

  • Juventini
  • *
  • Posts: 1,108
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #30 on: April 08, 2006, 08:33 PM »
Tác giả Nguyễn Nam An: [/u]
 
 Tên thật Lê Văn Mùi. Bút hiệu khác An Phú Vang. Sinh tại Ðà Nẵng Quảng Nam. Cựu học sinh Phan Chu Trinh. Hiện định cư tại Hoa Kỳ.

Tác phẩm đã xuất bản:

Tôi Chim Ngủ Ðậu Cành Xanh (thơ, Nhân Văn xuất bản 1996)
Thức, Buồn Chi (thơ, Nhân Văn xuất bản 1996)
Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Offline Pinturicchio

  • Juventini
  • *
  • Posts: 1,108
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #31 on: April 08, 2006, 08:36 PM »
Tác giả Nguyễn Nhược Pháp:

Nguyễn Nhược Pháp (1914-193)

Thi sĩ sinh ngày thứ bảy, 12 tháng 12 năm 1914 (nhằm ngày 25-10 năm Giáp Dần) tại Hà Nội. Là con trai thứ của văn hào Nguyễn Văn Vĩnh và là em của nhà thơ Nguyễn Giang. Ông theo học trường trung học Albert Sarraut. Sau khi đậu tú tài ông học luật trong một thời gian cùng với thi sĩ Phạm Huy Thông. Vào 7 giờ sáng ngày 19-11-1938 (nhằm ngày 28-9 năm Nhâm Dần) ông qua đời tại bệnh viện LaneSao Biểnan Hà Nội vì bệnh thương hàn, hưởng thọ 24 tuổi.

Tác phẩm đã in: Ngày Xưa (Nguyễn Dương xuất bản, Hà Nội 1935) Người học vẽ (kịch bản, xuất bản 1936 Hà Nội)

Trong thi phẩm Ngày Xưa, chúng ta thấy thi sĩ sắp xếp thứ tự như sau:

1. Sơn Tinh Thủy Tinh (Avril 1933), thất ngôn
2. Mỵ Châu (Janvier 1933), thất ngôn
3. Giếng Trọng Thủy (Janvier 1933), thất ngôn
4. Tay ngà (2 Mai 1934), ngũ ngôn
5. Mỵ Ê (Mai 1933), thất ngôn bát cú
6. Một buổi chiều xuân (6 Mai 1933), ngũ ngôn
7. Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống (30 Décembre 1932),
thất ngôn bát cú
8. Đi cống (10 Mai 1933), thất ngôn
9. Mây (25 Janvier 1934), ngũ ngôn
10. Chùa Hương (Aout 1934), ngũ ngôn

Ở đường Phan Thanh Giản, nơi cư ngụ của nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh, thường thường là một nơi anh em văn nghệ họp mặt ngày trước. Ở đó, có một người thi sĩ đời xưa... xin Thanh Hữu đừng phiền nghe anh! Tôi gọi anh là một thi sĩ đời xưa, tôi cho anh là người đi lạc giữa đời hỗn độn nầy. Tôi cảm hiểu anh lắm đó --

Người thi sĩ nầy ngâm thơ thật lạ thường -- anh ngâm thơ cổ, anh trình bày kịch thơ Kiều Loan, tôi ngỡ anh là người của đời Xuân Thu, kẻ sĩ của một thời oanh liệt nhất lịch sử, và điều mà tôi muốn nói ở đây là anh đã mang được những nét duyên dáng của thơ Nguyễn Nhược Pháp -- nét đùa cợt dí dỏm đó, cũng như sự quyến luyến say sưa của anh với nhà thơ nầy, vào tâm hồn say thơ của tôi. Từ đó tôi để ý và đi tìm đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp -- bài Sơn Tinh Thủy Tinh. Thật cả một sự lạ, tôi không ngờ Nguyễn Nhược Pháp có tâm hồn tươi tắn đến thế. Cái gì đối với ông cũng hiện hoạt trong sáng, trẻ trung điểm vào một tính chất hoài cổ lơ thơ của một người có vóc dáng dân tộc học nhưng còn một vẻ ý nhị Á Đông. Tôi đọc thơ ông để cảm, để vui giây bâng khuâng của một lứa tuổi thanh xuân nào đó.

Nguyễn Nhược Pháp hay kể chuyện bằng thơ -- chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, chuyện đi Chùa Hương, chuyện Đi Cống sứ vân vân... nhưng kể mà gợi lại được những huyền thoại xưa, kể mà làm lưu luyến người đọc, nghệ thuật kể chuyện bằng thơ... có lẽ chỉ có một Nguyễn Nhược Pháp mà thôi vậy.
Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Offline Pinturicchio

  • Juventini
  • *
  • Posts: 1,108
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #32 on: April 08, 2006, 08:38 PM »
Tác giả Nguyễn Sỹ Tế:

Sinh năm 1922 tại Nam Ðịnh
vào Nam năm 1954
cựu hiệu trưởng trường Trường Sơn Sài Gòn
đã trải qua 13 năm trong các trại cải tạo, sau 1975.
hiện định cư tại Hoa Kỳ

Tác phẩm đã xuất bản:

Chờ Sáng (1962)
và nhiều sách nghiên cứu văn học Việt Nam

Người ta biết đến ông như một nhà văn hay một nhà giáo hơn là một nhà thơ.

Nhưng dù ở cương vị nào, ông cũng hiền lành, nhân ái, ngay cả đối với những người đày ải và đối xử tàn tệ với bản thân mình và đồng bào ruột thịt của mình. Ông không chiến đấu, dù là chiến đấu bằng ngòi bút. Ông chỉ giáo dục, cảm hóa người khác, bằng ngòi bút.

Thơ ông luôn có cái chừng mực trầm tĩnh, đạo mạo của một nhà giáo, nhưng không thiếu cái đẹp trong sáng, siêu thoát của một đạo nhân.

Những bài sau đây trích từ thi phẩm Khúc Hát Gia Trung của ông, do Edition Imn xuất bản năm 1994, hai năm sau khi ông đặt chân đến Hoa Kỳ.
Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Offline Pinturicchio

  • Juventini
  • *
  • Posts: 1,108
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #33 on: April 08, 2006, 08:40 PM »
Tác giả Nguyễn Tất Nhiên:

Tên thật Nguyễn Hoàng Hại, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952 tại Biên hòa
mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại California Hoa Kỳ

Tác phẩm:

Nàng Thơ Trong Mắt
Dấu Mưa Qua Ðất
Thiên Tai
Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Offline Nuage

  • JFC Wonderkid
  • *
  • Posts: 195
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #34 on: April 10, 2006, 07:06 PM »
@ Casanova : Khiếp quá, tưởng ai , hoá ra là anh Pintu . em đọc nhanh cái nick anh , em tương là Cavamasilô ( cá vàng mắt siêu lồi )   kha kha

em cảm ơn nhé, lần này không kịp nhưng chắc chắn em còn dúng đến nó mà. hì, em chỉ cảm on thế thôi, tiền công không có đâu. Bác mod thích thì del giùm em  
[span style=\\\'color:gray\\\'][span style=\\\'font-size:10pt;line-height:100%\\\']Nếu thời gian có quay trở lại.....Em sẽ vẫn bước về phía ấy....[/span][/span]

Offline Casanova

  • Juventini
  • *
  • Posts: 500
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #35 on: June 15, 2006, 05:27 PM »
Tác giả Phan Thị Thanh Nhàn:

Bút danh cũng là tên thật. Sinh năm 1943 tại quê gốc xã Tứ Liên, Hà Nội. Viết báo, làm thơ, viết truyện trẻ em. Trong lứa viết văn xuất hiện đầu kháng chiến chống Mỹ, Phan Thị Thanh Nhàn hay được dẫn ra sau Xuân Quỳnh, như những cây bút nữ tiêu biểu của thời đó.

Thanh Nhàn có thơ đăng báo từ những năm đầu thập niên 60, nhưng bà được đông đảo độc giả biết đến là từ khi bài Hương thầm được giải nhì trong cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ năm 1969. Bài thơ này tập trung được nhiều nét đặc sắc của thơ Thanh Nhàn. Thơ bà khá đậm nữ tính. Nhân vật trữ tình của bà thường là các cô gái bán tỉnh bán quê, e lệ nhưng thông minh như cô gái trong Hương thầm gói chùm hoa bưởi vào chiếc khăn tay sang thăm người con trai hàng xóm ngày mai ra trận. Vào cuối thế kỷ 20 rồi, cái lối tỏ tình ấy chỉ còn lưu lại ở những vùng quê ngoại thành. Không gian thân thuộc của thơ Thanh

Nhàn chính là đất ngoại thành quê gốc, nơi sinh nơi trưởng của bà, vùng Yên Phụ-Hồ Tây, Hà Nội. Những con người lam làm vất vả nghèo khó đất ngoại ô này: ông mù quét rác, bà chè chai đồng nát... chiếm một cảm tình sâu nặng trong thơ bà. Thanh Nhàn viết bằng những kỷ niệm ấu thơ, và bằng cả chất liệu của chính cuộc sống thường nhật. Bà không tìm thơ xa xôi, cũng không kiễng lên với những chủ đề lớn. Thơ bà giản dị, cảm xúc chân thực. Bà không mạnh tưởng tượng nhưng lại giỏi phát hiện chất thơ sinh động trong đời sống thật như ở một đám cưới ngày mùa:

Các cụ ông say thuốc
Các cụ bà say trầu
Còn con trai con gái
Chỉ nhìn mà say nhau.


Và nhất là ở chính nội tâm bà. Đây là mặt mạnh trong cảm xúc trữ tình của Thanh Nhàn. Thơ bà cho thấy cuộc đời của bà. Tình cảm với những người thân trong gia đình: mẹ, em gái, em trai..., và nhất là vùng thơ tình yêu. Bà ít viết những đề tài ngoài mình, những đề tài xã hội. Bà viết như tâm sự, giãi bày chính nỗi lòng mình. Rất nhiều cung bậc tình yêu đầy nữ tính được lưu giữ chân thật cảm động trong thơ Thanh Nhàn: thuở ban đầu:

Tay anh cầm lần ấy
Tôi xấu hổ cúi đầu
Cửa đừng nghe trộm đấy
Tôi chả bằng lòng đâu

Rồi lúc vào tuổi lớn:
Mắt đeo kính tóc rụng thưa
Gặp người yêu cũ muốn vờ rằng quên.[/color]


Thanh Nhàn có nhiều trăn trở trong duyên phận và bà đã chuyển tải chúng vào thơ khá tinh tế. Khi chia sẻ với gương mặt hạnh phúc sau xe đạp người ta, khi chạnh lòng trong ngày vui em gái:

Nhìn hai em thật đẹp đôi
Vu vơ lòng chị bỗng hơi hơi buồn
Một lời giao hẹn rất đàn bà:
Nếu anh đi với người yêu
Chỉ xin anh nhớ một điều nhỏ thôi
Con đường ta đã dạo chơi
Xin đừng đi với một người khác em.


Một quan sát tâm lý trong đời sống gia đình:

Chiều nay chắc giận em ghê lắm
Anh bực mình triết lý lung tung.


Thanh Nhàn tự biết mình là người đa mang, đa cảm. Bà diễn tả tài tình nhiều cung bậc về sự cô đơn. Khi thì an ủi bông hoa nở một mình:

Một mình đâu? Có trời cao
Có heo may lạnh rì rào cùng hoa.


Hoa có trời cao và gió lạnh ở bên. Hình thức là an ủi nhưng thực chất là lời than xót xa. Nhạy cảm với cô đơn, bà lắng nghe mình và tự cảnh giác:

Xin đừng bước lại gần hơn
Xin đừng gửi kẹo cho con ở nhà
Xin đừng trò chuyện gần xa
Xin đừng điện thoại, đừng qua trước thềm.


Quay nhìn lại, ngót bốn mươi năm làm thơ, Thanh Nhàn không bâng khuâng về thơ mà bâng khuâng về đời, về duyên phận:

Bây giờ tóc bạc tuổi cao
Thơ mình mình đọc câu nào cũng thương
(...) Người yêu ngày ấy đâu rồi
Chỉ câu thơ sống cùng tôi tuổi già.


Với Thanh Nhàn, thơ như lý lịch cuộc đời. Đó là một hướng đi đúng, nhất là đối với các cây bút nữ, vốn mạnh cảm xúc nội tâm. Thanh Nhàn lấy chính mình làm đối tượng khám phá, làm đề tài lẫn chủ đề cho thơ. Bà tìm ra cái bất ngờ ở tuổi bốn mươi Băn khoăn bỡ ngỡ như hồi mười lăm. Lại có khi tạ lỗi rất thật thà Tạ lỗi người thương tôi/ Bởi người tôi thương mến/ Đã thờ ơ mất rồi. Đọc Thanh Nhàn đừng bận tâm đi tìm tư tưởng. Bù lại, thơ bà dễ thân, dễ thành bạn tâm tình chia sẻ với mọi người. Giọng thơ giản dị, câu thơ càng ngày càng được chăm sóc tỉ mỉ. Tình cảm chín dần trong nỗi thấm thía nội tâm. Bước tiến của Thanh Nhàn song hành với sự lịch lãm từng trải và sự lao động kiên trì của bà. Thanh Nhàn ngày càng lặn sâu vào lòng mình, mạnh dạn mà cũng khá nhuần nhuyễn bộc lộ nỗi riêng tư rất cá thể trước cuộc đời. Bà cảm tạ cuộc đời, cảm tạ bạn đọc tri kỷ, lời lẽ chân thành như nói với mai sau:

Ai sẽ đọc thơ tôi
Với tấm lòng trân trọng
Ai có cảm thương tôi
Suốt một đời lận đận
(...) Lặng im trong lặng im
Có nghe lời cảm tạ.
 
[div align=\\\"right\\\"]
Trí thân trực dục cao thiên nhận;
Xử thế tu đương hạ nhất tằng.
 
[/div][/b]

Offline Pinturicchio

  • Juventini
  • *
  • Posts: 1,108
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #36 on: June 15, 2006, 06:33 PM »
Tác giả Quang Dũng:

Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội). Năm 1947, đại đôi trưởng đòan quân Tây tiến.

Hoạt đông văn nghệ ở Liên Khu III thời kháng chiến. Sau 1954, sống như một kẻ vô danh tại miền Bắc. Mất ngày 13.10.1988 tại Hà NộiQuang Dũng (1921 - 1989)

Theo hồi ký của Phạm Duy, Quang Dũng họ Bùi, tên thật là Bùi Đình Diệm, quê tại Phượng Trì, Sơn Tây. Ông là người rất hiền từ, chan chứa tình người như đã thể hiện qua những bài thơ của ông. Quang Dũng vừa cầm bút, vừa cầm súng, ông từng là đại đội trưởng của Trung Đoàn Thủ Đô trong công cuộc kháng chiến chống Pháp. Những tác phẩm nổi tiếng của ông trong thời kỳ này là Đôi Mắt Người Sơn Tây (Hoa Thanh Bình), Đôi Bờ, Tây Tiến, Những Làng Đi Qua... Nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã phổ nhạc bài Đôi Mắt Người Sơn Tây. Trong kháng chiến, ông cũng tham dự một cuộc triển lãm hội hoạ với mộ t bức tranh tựa đề Gốc Bàng. Ông cũng soạn nhạc, bài hát Ba Vì được dân chúng trong vùng kháng chiến hát trong nhiều năm:

Ba Vì mờ cao
Làn sương chiều xa buông
Gió về hương ngát thơm
Đưa hồn về đâu ?


Vì là gốc tiểu tư sản nên ông bị Việt Minh nghi kỵ. Ngay trong khói lửa chiến tranh, ông vẫn viết lên những lời vừa hào hùng, vừa lãng mạn:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm
...
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành


Sau 1954, ông bị kẹt lại ở miền Bắc. Ông cũng bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, và lui về ẩn thân. Về sau này, như những nhà thơ lớn khác, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh,... ông mai một và mất đi trong âm thầm trong chế độ cộng sản.
 Trích một đoạn Phạm Duy viết khi nghe tin ông mất:

-------

Tôi đã điện đàm với Nàng, báo tin buồn và ước mong có dịp gặp con người có vầng tráng mang trời quê hương và đôi mắt dìu dịu buồn Tây Phương đã từng là nguồn cảm hứng cho những bài thơ bất hủ của Quang Dũng để tôi - rất có thể - nhìn thấy những giòng lệ nhạt nhoà tuôn chảy. Những giòng lệ làm tôi hình dung ra được một con sông đào vùng tề hay cả một vùng biển lớn mang tên Thái Bình Dương lúc nào cũng sẵn sàng để chia rẽ đôi bờ cho những người tình thuộc thế hệ tôi, thế hệ đầu tiên bị chiến tranh và thù hận bao vây không ngừng nghỉ.

Quang Dũng đã nằm xuống trên một mảnh đất quê hương tôi mong rằng cũng không không xa cánh đồng Bương Cấn của anh là mấy. Thôi nhé, xin chúc anh ngủ yên trong giấc mộng thiên thu để cho chúng tôi tiếp tục buồn hộ anh nỗi buồn viễn xứ khôn nguôi...

-------
Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Offline Tran Luan

  • Juventini
  • *
  • Posts: 226
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #37 on: August 27, 2006, 10:13 AM »
[div align=\\\"center\\\"]TIỂU SỬ TÁC GIẢ TỐ HỮU[/div]
    [/div]
« Last Edit: August 27, 2006, 10:36 AM by Tran Luan »
[div align=\\\"center\\\"]In the game of seduction!There is only a law,never fall in love![/div]

Offline Tran Luan

  • Juventini
  • *
  • Posts: 226
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #38 on: August 28, 2006, 10:43 AM »
[div align=\\\"center\\\"]TIỂU SỬ NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH[/div] [/color]
[div align=\\\"center\\\"] :
[div align=\\\"center\\\"]Tương Tư
Nguyễn Bính

Thôn Ðoài ngồi nhớ thôn Ðông,
Một người chín nhớ mười mong một người,
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương Tư là bệnh của tôi yêu nàng,
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này,
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng,

Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành,
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi,

Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai hỏi ai người biết cho,
Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau,

Nhà em có một giàn trầu,
Nhà tôi có một hàng cau liên phòng,
Thôn Ðoài thì nhớ thôn Ðông,
Cau thôn Ðoài nhớ trầu không thôn nào.
[/div]
« Last Edit: August 29, 2006, 11:05 AM by Tran Luan »
[div align=\\\"center\\\"]In the game of seduction!There is only a law,never fall in love![/div]

Offline Tran Luan

  • Juventini
  • *
  • Posts: 226
Vài dòng về các nhà thơ VN
« Reply #39 on: August 29, 2006, 11:02 AM »
[div align=\\\"center\\\"]TIỂU SỬ NHÀ THƠ HÀN MẶC TỬ [/div]
[div align=\\\"center\\\"][/div]

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới
Thuở nhỏ ông học trung học ở Huế (1928-1930), làm viên chức sở đạc điền ở Quy Nhơn (1932-1933), vào Sài Gòn làm báo rồi lại trở về Quy Nhơn (1934-1935).

Ông mắc bệnh phong từ năm 1937, phải vào nhà thương Quy Hòa tháng 9 năm 1940, và rồi mất ở đấy ngày 11 tháng 11 năm 1940.

Hàn Mặc Tử bắt đầu làm thơ rất sớm với thể thơ Đường luật và bút danh Minh Duệ Thị, Phong Trần; nổi tiếng vì được cụ Phan Bội Châu họa thơ và đề cao.Từ năm 1935 ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh, rồi Hàn Mạc Tử, và cuối cùng Hàn Mặc Tử.
Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản trong sinh thời tác giả), Thơ Điên (hay Đau Thương), Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, Chơi Giữa Mùa Trăng...

Hàn Mặc Tử đem đến cho Thơ Mới một phong cách độc đáo và sáng tạo: bên cạnh những tác phẩm bình dị, trong trẻo, chan chứa tình quê là các tác phẩm đầy những cảm hứng lạ lùng, huyền bí, thậm chí đến điên loạn, phản ảnh trực tiếp một tâm hồn yêu thơ, yêu đời chan chứa, nhưng lại oàn oại vì cơn bệnh đau đớn dày vò.
 
Sau đây là 1 số bài thơ tiêu biểu của ông:
 
Anh Điên
Buồn Thu
Đây Thôn Vỹ Dạ
Đêm xuân cầu nguyện
Gái Quê
Ghen
Mùa Xuân Chín
Nỗi Buồn Vô Duyên
Trái Mùa
Trường Tương Tư
Xuân Đầu Tiên


Và em cũng xin trích bài thơ "Đây Thôn Vỹ Dạ",một bài thơ thể hiện khá rõ hồn thơ bình dị,trong trẻo và chan chứa đầy tình yêu của tác giả(mặc dù lúc này ông đã bệnh).
[div align=\\\"center\\\"]Đây Thôn Vỹ Dạ
Hàn Mặc Tử

Sao anh không về chơi thôn Vỹ ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay ...
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra ...
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
[/div]
« Last Edit: August 29, 2006, 11:04 AM by Tran Luan »
[div align=\\\"center\\\"]In the game of seduction!There is only a law,never fall in love![/div]