Thơ, đôi điều ai cũng biết
Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi... Nhưng bao giờ thì thơ cũng vẫn có những mối quan hệ rất khăng khít với tình yêu. Có một giai thoại về thơ và tình yêu được lưu truyền khá rộng rãi trong dân gian rằng: Hai vợ chồng ông bà thi sỹ x.y.z kia yêu nhau lắm... Say đắm đến nỗi, bà x.y.z chết đã được ba năm rồi mà ngày nào ông x.y.z cũng vẫn lóc cóc một mình ra nghĩa trang để viếng mộ vợ. Bất chấp thời tiết, dù mưa gió, bão tuyết kiểu gì thì ông cũng cứ vẫn đứng hàng giờ bên mộ bà. Và, không những chỉ thay hoa mới, ông còn làm thơ để tặng bà nữa, mà làm rất nhiều, rất đều, giai thoại nói, mỗi ngày ông làm một bài, và làm cho đến tận khi chết mới thôi.
Không hiểu tại sao mà người ta lại không xuất bản những bài thơ mà thi sỹ x.y.z kia làm bên mộ vợ. Nhưng, dẫu giả sử là đã có một giai đoạn, một thời điểm nào đó, nó được phổ biến thì cũng không hiểu tại sao mà chẳng ai nhớ được một bài thơ nào của ông cả... Dù rất là vô tích sự và mất vệ sinh, nhiều người nghe giai thoại đồ rằng, có lẽ ông x.y.z chết là do hàng ngày hít phải tử khí nơi nghĩa trang, nhưng có thế thì mới biết rằng việc đặt được ý nghĩa của một việc làm (dù rất là vô nghĩa) vào lòng nhân loại còn dễ dàng hơn là nhồi nhét, bắt họ thuộc một bài thơ như thế nào.
Không ai phủ nhận tình yêu của ông x.y.z đã giành cho vợ, nhưng dù cho cái tình yêu ấy có cao thượng, có mạnh mẽ, mãnh liệt, sâu sắc đến đâu đi chăng nữa thì nó cũng không đủ sức đứng để làm đề tài cho ông vịn vào đó mà làm thơ suốt ba năm trời ròng rã. Không một ai, dù tài giỏi đến đâu, mà có thể làm hơn hàng nghìn bài thơ về cái mả hoặc những gì có liên quan đến cái mả lại hay được cả.
Hàng trăm hàng ngàn con người còn chẳng làm nên cơm nên cháo gì huống chi một ông x.y.z. Thật vậy! Ở Việt Nam có những thời kỳ người ta vận động viết, vẽ về đủ thứ chủ điểm như nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, quân đội, hoặc đủ thứ đề tài như bình dân học vụ, sinh đẻ có kế hoạch, và mới đây nhất là chống tham nhũng, chống xì ke ma túy... Hàng trăm, hàng ngàn nhà văn, nhà thơ, nhà báo cùng các họa sỹ đã xuống đường, đã lăn lộn với anh chị em công nhân ở các xưởng máy, đã ăn dầm nằm dề với bà con nông dân ở các hợp tác xã, đã vào sống ra chết với các chiến sỹ nơi mặt trận..., tức là đã “hưởng ứng”, vậy mà, cuối cùng có được bao nhiêu tác phẩm ra hồn tác phẩm, bao nhiêu tác phẩm tồn tại với thời gian hay chỉ là một con số không tròn trĩnh?
Hành trình để đến với thơ chẳng có gì đáng phải gọi là khó khăn, phức tạp.
Không kể đến những ngoại lệ hết sức hiếm hoi như bị một con hổ bắt cóc lôi vào rừng hoặc bị quẳng vào giữa bầy sói để sau này trở thành những Tarzan nửa người nửa thú man rợ, trong một xã hội bình thường, nếu sinh ra không bị khuyết tật gì một đứa trẻ dứt khoát phải biết đi đứng, biết nói cười, biết vui buồn... Cho đến khi nhân loại có văn tự, muốn đọc được, đứa trẻ ấy phải biết một số chữ cái, và muốn viết được thì nó phải biết cách ghép những chữ cái ấy vào với nhau. Chân lý nhiều khi đơn giản đến không ngờ, kho tàng kiến thức ngày nay của thiên hạ trông đồ sộ vậy nhưng thực chất chỉ là trò chơi ghép những chữ cái này vào với những chữ cái kia mà thôi
Nhưng không giống như viết một cuốn tiểu thuyết, cũng không giống như viết một cái truyện ngắn, một bài lý luận văn học hay một công trình nghiên cứu khoa học..., một người nào đó vẫn có thể làm được những bài thơ dài mà không cần biết một chữ cái nào cả, cũng chẳng cần phải biết một quy tắc nào để ghép chúng vào với nhau. Chẳng phải chỉ ở Việt Nam mà là cả toàn thế giới, hiện nay có bao nhiêu người làm thơ mà không hề biết một chữ nào đó sao? Tiếng Việt thật phong phú. Không ai nói tôi đang làm một cuốn tiểu thuyết, hay tôi đang đang làm một cái truyện ngắn (hoặc có nói, thì cũng rất cưỡng), nhưng người ta có thể nói tôi đang làm một bài thơ. Thật là đơn giản, cứ như là tôi đang làm một miếng đất để trồng rau vậy.
Nói tôi đang viết hoặc tôi đang làm một bài thơ đều được cả. Có thể chẳng cần biết một chữ cái quái quỷ nào mà vẫn có thể làm thơ được... Dễ dàng quá. Nhưng có lẽ cũng chính vì thế mà có nhiều nhà thơ vô danh.
Có nhiều nhà thơ đã để lại những tác phẩm hết sức nổi tiếng nhưng vẫn vô danh. Đây là lỗi tại lịch sử. Nếu như đừng có những cuộc chiến tranh, nếu như đừng có vị hoàng đế một vị nguyên soái hay chủ tịch nào đó thích chơi trò đốt sách, tịch thu sách, bài trừ văn hóa phẩm (đồi trụy, sic!), và chôn vùi, đầy đọa học trò cùng những người biết chữ nghĩa thì có lẽ đã không có nhiều nhà thơ bị nhân loại quên béng mất tên tuổi như vậy.
Nhưng, thật buồn cười, cũng có rất nhiều nhà thơ ở thời hiện đại, mặc dù có kha khá số tác phẩm mà vẫn vô danh, vẫn chẳng được ai nhắc hoặc nhớ đến bao giờ. Lý do thật đơn giản, chỉ vì cái được gọi là “thơ” của họ khó chấp nhận quá, mà, khổ một nỗi lại là “khó chấp nhận” đối với một số đông.
Có thể nói mà không sợ cường điệu quá rằng, ở Việt Nam, không có một bộ môn nghệ thuật nào lại có sức thâm nhập vào đời sống mạnh mẽ bằng thơ. Trong đám cưới người ta đọc thơ chúc mừng cô dâu chú rể, trong đám ma người ta cũng đọc thơ để tưởng nhớ và ca tụng công đức người chết (mặc dù, đôi khi lúc còn sống cái người chết ấy chẳng có cái quái gì gọi là công đức cả). Người ta làm thơ mừng sinh nhật nhau, làm thơ nhân ngày đầy tháng cho con gái, đầy năm cho con giai của nhau. Rồi thơ giỗ chạp, thơ mừng người nọ thoát chết, thơ mừng người kia ra tù, thơ chúc người này tai qua nạn khỏi, thơ chúc người kia thoát tai bay vạ gió... Thơ là những lời mơn trớn, động viên lẫn nhau nhưng thơ cũng lại là vũ khí, có thơ cho bạn bè thân thiết, lại cũng có thơ cho kẻ thù không đội trời chung. Nói chung, nhân dịp bất kỳ sự kiện gì cũng đều có thể làm thơ được.
Cũng chính vì có nguồn đề tài phong phú đến bất tận như thế mà người ta có thể làm thơ vào bất cứ lúc nào. Xuân thơ, hè thơ, thu thơ, đông thơ, rồi sáng, trưa, chiều, tối, đêm..., vào thời điểm nào cũng đều có thể sản xuất được thơ. Nhiều người đang ngủ, tưởng là say sưa, ngon giấc lắm, vậy mà không phải đâu, đang suy nghĩ, tìm ý, xếp vần, đặt câu, đếm chữ đấy, vì tự nhiên lại thấy mắt nhắm mắt mở lồm cồm ngồi dậy, để làm thơ.
Người ta cũng có thể làm thơ ở bất cứ đâu, nhưng hình như ở một nơi nào đó càng đau khổ bao nhiêu thì thơ lại càng được sáng tác ra nhiều hơn, tuyệt vời hơn bấy nhiêu hay sao ấy. Đã có rất nhiều thơ về những ngày lênh đênh trên mặt biển tìm đường vượt biên, cũng đã có rất nhiều thơ về những ngày khốn kiếp trong các trại cải tạo và thời gian gần đây, người ta hay nhắc đến những bài thơ làm trong tù của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Có một điểm giống nhau giữa ông “ngục sỹ” này với nhà thơ Hồ Chí Minh là hai người đều nổi danh từ những bài thơ làm trong tù. Nhưng lại cũng có những điểm khác nhau giữa hai thi sỹ. Đó là, trước trong và sau khi ngồi tù, ông Nguyễn Chí Thiện đều làm thơ bằng một thứ tiếng Việt hiện đại. Còn ông Hồ Chí Minh thì hình như là cả một thời kỳ dài trước khi bị Tưởng Giới Thạch bắt chẳng có bài thơ nào. Và, thật là đột ngột, đúng vào thời gian hơn một năm trời bị giam giữ, bị giải đi rong ruổi hết nhà tù này đến nhà tù khác thì tự nhiên ông lại làm thơ và làm rất hăng. Trong vòng mười mấy tháng trời mà ông làm được cả một tập “Nguc trung nhật ký” dầy dặn gồm hàng trăm bài thì quả là tài thật. Không ai có thể phủ nhận được cái hay của những bài thơ này. Đúng là có một số bài đã chinh phục được một vài đỉnh cao. Nhưng cũng chính vì thế mà người ta đâm ra nghi ngờ tác giả của chúng, và, một giả thiết được đưa ra là, có thể ông Hồ đã mượn tạm những tác phẩm này của ai đó chăng? Biết đâu đấy.
Tất nhiên là người ta có thể đạp đổ giả thiết. Nhưng cái khó hiểu là chính ông Hồ trong những ngày còn sống khỏe mạnh cùng với một ban tham mưu hùng hậu vậy mà cũng vẫn không có cách nào để phủ nhận cái “nghi án văn học” rất không có lợi cho thanh danh của ông ấy. Bằng chứng là, sau khi ra tù ông không sáng tác một tác phẩm nào bằng chữ Hán nữa. Và, mặc dầu thỉnh thoảng năm thì mười họa ông vẫn còn làm thơ, nhưng với những bài vè quá hời hợt, sơ sài, đơn giản đến ngớ ngẩn về cái kim sợi chỉ, về con ong cái kiến hay hòn đá hòn gạch ấy không đủ sức nặng để cân bằng với một Nhật ký trong tù đồ sộ đầy tính uyên bác. Tức là vẫn không đủ mạnh để đánh đổ một giả thiết. Thật vậy! Đọc thơ của ông Nguyễn Chí Thiện làm vào bất kỳ thời điểm nào người ta cũng vẫn có thể nhận ra rằng đấy là ông Nguyễn. Nhưng, nếu cũng làm như thế với ông Hồ Chí Minh thì người ta lại nhận ra được đến mấy ông Hồ.
Sao tự nhiên lại mang ông Hồ với ông Thiện vào cái ví dụ này nhỉ? Để thấy rằng cái danh hiệu nhà thơ nhiều khi cũng có ma lực làm tối tăm mắt mũi của các vĩ nhân chăng? Thì ở Việt Nam, kể từ một ngày mùa thu tháng Tám được gọi là lịch sử ấy cho đến tận bây giờ người ta chẳng vẫn coi ông Hồ Chí Minh là duy nhất Thiên tài, ca ngợi ông là cứu tinh của dân tộc, lương tâm của thời đại, tinh hoa của dòng giống, suy tôn ông là Cha Già... đấy là gì. Vậy mà, ngoài những cái vinh quang, những cái vĩ đại tưởng như đã đến đỉnh cao tột bậc ấy ra, chẳng hiểu sao ông vẫn thích quàng thêm vào cổ một vòng nguyệt quế có tên gọi là thi sỹ nữa.
Phải đưa cái ví dụ ấy ra để thanh minh cho một tầng lớp quý tộc mới nổi lên ở Việt Nam hiện nay. Những cái chức giám đốc xí nghiệp, giám đốc công ty, ủy viên ban quản trị liên doanh, chủ khách sạn... đã rất kêu rồi, nhưng người ta vẫn cứ thích khoác thêm vào người cái áo nhà thơ nữa. Cũng chẳng có gì đáng gọi là khó lắm. Thời buổi này cái gì cũng có thể mua được. Cứ bỏ ra một số tiền rồi thuê ai đó làm cho một tập dăm bảy chục bài thơ, ký tên mình vào rồi in ra là nghiễm nhiên trở thành thi sỹ rồi.
Nhưng không phải là ai cũng có tiền, và chả lẽ chỉ có thế mà chịu bó tay từ bỏ giấc mộng trở thành thi sỹ hay sao? Thưa rằng không! Dù nghèo đói kiểu gì đi nữa thì cái khát vọng mãnh liệt ấy vẫn ngày đêm nung nấu tâm can của một số người. Vậy nên, ngoài loại bị thịt ăn bám, đại lãn, nổi danh nhờ công sức người khác kể trên ra, phần đông các nhà thơ Việt Nam từ trước đến nay đều rất có tinh thần tự lực cánh sinh. Họ tự sáng tác lấy tác phẩm của mình và chỉ khi cùng cố, khó khăn lắm mới phải nhờ người khác tỉa tót, nhuận sắc, sửa chữa lại chút đỉnh.
Tinh thần ấy thật đáng hoan nghênh và đang hàng ngày hàng giờ được người ta phát huy đến cao độ để số sản phẩm thơ mỗi lúc lại càng nhiều thêm. Chẳng nói thì ai cũng biết rằng, thời kỳ này mùa màng thơ Việt Nam đang bội thu, cả ở trong nước lẫn hải ngoại.
Để làm được một bài thơ không cần phải đầu tư nhiều vốn liếng lắm... Với một đứa bé, có khi chỉ cần dăm ba bài hát ru của bà, của mẹ, của chị là đã có thể làm được từ một đến nhiều bài thơ kiểu trên sáu dưới tám hoặc thơ bốn chữ năm chữ của nó rồi. Khi lớn hơn một tí, lúc đã biết chăn trâu cắt cỏ, biết cấy lúa, nhổ mạ, biết làm cỏ, bón phân... thì những bài vè, đồng dao, ca dao, những điệu hát đúm, hát lượm hay kể cả những câu chửi bới móc máy có vần có điệu của dân gian, nhiều khi cũng là những bài mẫu mực để nó dựa trên đó mà làm thơ... Thì từ trước đã bảo là không cần biết chữ vẫn có thể làm thơ được cơ mà.
Nhưng nếu lúc lớn lên, lúc trưởng thành về mọi mặt rồi mà đứa trẻ biết thêm được một ít chữ thì vẫn tốt hơn. Và, nếu may mắn, có điều kiện để biết thêm được càng nhiều chữ thì lại càng hũu ích cho nó. Vì, lúc ấy, ngoài những bài na ná như ca dao, na ná như hát ru, na ná như hò vè ra... nó có thể làm được một số dạng thơ khác. Cứ chịu khó để ý hoặc chịu khó nhớ lại một tí mà xem. Đầu tiên, bao giờ bọn trẻ cũng làm những bài thơ ngăn ngắn, tứ tuyệt, như kiểu của Tú Xương, Nguyễn Khuyến..., sau đó thì chúng làm dài hơn một tí, thất ngôn bát cú, như kiểu hoặc Phan Văn Trị, Hồ Xuân Hương hay Bà Huyện Thanh Quan... Và, cũng những đứa trẻ ấy, nếu như chúng không mải chơi quá, nếu như chúng không bằng lòng với kết quả đã đạt được của mình, nếu như chúng được người lớn quan tâm, được các nhà thơ đàn anh, đàn cha chú nâng đỡ... thì chúng có thể làm được những bài thơ dài hơn, hay hơn, đượm hơi hám Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Thế Lữ hay TTKH... Tất nhiên, chúng cũng có thể làm thơ bậc thang, thơ tự do..., nếu như có một lần nào đó ra hiệu sách rước về một cuốn thơ nước ngoài.
Không nhất thiết phải thuộc lòng đến năm chục bài thơ xuất sắc mà chỉ cần thỉnh thoảng đọc đi đọc lại một số bài tầm tầm in trên báo là đã có thể nạp đủ một số kiến thức để làm từ một đến nhiều bài thơ của mình. Những bài thơ làm theo thói quen, theo đường mòn ấy, cũng như toán, hoặc vật lý, hoặc hóa học, hoặc một số ngành khoa học kỹ thuật khác..., với chỉ một công thức ấy thôi, mỗi lần thay những con số mới vào thì người ta lại có những kết quả khác nhưng chẳng có gì được gọi là sáng tạo.
Không ai có thể phủ nhận một hiện thực rất đáng buồn bã là chất lượng của nền thơ Việt Nam hiện đại. Nhưng cũng không phải vì thế mà đánh giá thấp tầm quan trọng của thơ đối với cuộc sống. Thử đặt ra một giả thiết, thì cứ cho là dở đi, nhưng nếu tự nhiên một đội ngũ rất hùng hậu những nhà thơ hiện nay lại đùng đùng đình công không làm thơ nữa thì sự thể sẽ ra sao nhỉ?
Từ đây, lại có thể đặt ra một số giả thiết từ phức tạp đến đơn giản khác nữa. Chắc chắn là sẽ có một số đông người giành thời gian đáng lẽ ngồi sản xuất ra những vần thơ để tham gia những băng đảng làm ăn phi pháp, buôn lậu thuốc lá, chích choác ma túy hoặc làm ma cô dẫn gái, trấn lột, cướp giật, đâm chém nhau. Sẽ có một số đông nữa giành thời gian đó để la cà nơi hàng quán hoặc lang thang dặt dẹo ngoài đường, trêu ghẹo phụ nữ, cãi cọ ồn ào gây mất trật tự nơi công cộng, cản trở giao thông hay làm một loạt những hành động không suy nghĩ khác... Chắc chắn là xã hội sẽ đi chệch sang một hướng khác hẳn, và, đơn giản nhất thì cũng sẽ có một số đông an phận thủ thường, gồm những người không làm gì ảnh hưởng đến ai mà chỉ ngồi hoặc nằm thừ ra vì... buồn.
Thật đáng sợ, nếu một xã hội suy đồi gồm toàn những tệ nạn gớm ghiếc và những kẻ chán đời như thế. Và, ai cũng biết rằng, một khi mà những cái buồn, cái chán, những cái tệ nạn ấy trầm trọng đến mức độ thê thảm thì rất dễ dẫn đến thảm trạng diệt vong. Nhưng thật may mà cái giả thiết vớ vẩn trên kia lại cũng chỉ là giả thiết mà thôi. Và, không khi nào, không có ai, không một thế lực, không một sức mạnh nào có thể bắt nhà thơ phải ngồi yên một chỗ cả. Dù là dở nhưng kiểu gì thì các thi sỹ của chúng ta cũng phải sản xuất ra ngày một nhiều thơ và điều đó đã cứu sống xã hội.
Đừng vội lên án thơ. Cũng đừng vội chế diễu cười cợt các nhà thơ. Thơ hòa nhập với xã hội, đi vào ngõ ngách của cuộc sống, len lỏi vào từng gia đình, sâu sát từng thân phận là để cứu vớt những linh hồn đang trôi dạt giữa biển đời đen tối đầy phong ba bão tố mà không nơi bấu víu. Thật may mà loài người vẫn còn cố bám lấy thơ, và vấn đề đặt ra lúc này là làm thế nào để nâng cao chất lượng thơ lên mà thôi. Làm thế nào để có thơ hay? Yêu cầu đưa ra đơn giản có vậy mà khó vô cùng. Đã đến lúc thi sỹ phải tự đục bỏ mình. Đừng nhai lại dù của bất cứ ai và hãy thật dũng cảm xé vứt đi những câu thơ, bài thơ chắp vá, những bản nháp vô nghĩa hời hợt đầy những từ ngữ sáo rỗng. Hơn nữa, phải chăng là đã đến lúc cần làm một cuộc cách mạng, một cuộc cải cách cho thơ?
02-2001
Nguyễn Hoài Phương