Author Topic: Chào Italia - Đất nước xinh đẹp  (Read 15130 times)

0 Members and 2 Guests are viewing this topic.

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« on: December 09, 2010, 01:35 PM »
[div align=\\\"center\\\"] [/div]

Đất nước Italia có diện tích khoảng 301.302 km2. Nhìn trên bản đồ Italia có hình như một chiếc ủng. Theo số liệu thống kê năm 2000 thì dân số Italia khoảng 57,6 triệu người. Italia nằm về phía Nam của châu Âu, 3 mặt giáp với Địa Trung Hải, phìa Bắc giáp với Serbia&Montenegro, Áo, Thuỵ Sĩ, Pháp. Italia được thừa hưởng khí hậu của vùng Địa Trung Hải, khí hậu ôn hoà.

Dân số Italia phần lớn theo đạo Thiên chúa giáo (chiếm 83,2% dân số). Ngôn ngữ chính là tiếng Italia. Trước đây tiền tệ là đồng lira, nhưng hiện nay Italia dùng tiên chung châu Âu (euro).

Italia là nước Cộng Hoà, tổng thống là nguyên thủ quốc gia, có nhiệm kỳ 7 năm. Quốc hội là cơ quan lập hiến tối cao, gồm hai viện: thượng viện với 315 ghế, hạ viện với 630 ghế, nhiệm kỳ 5 năm. Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, đứng đầu là thủ tướng. Thủ tướng đứng ra lập nội các và đề nghị danh sách bộ trưởng. Italia có nhiều đảng phái chính trị tham gia các liên minh như: liên minh trung tả, trung hữu, trung dung. Đảng mạnh nhất hiện nay ở Italia là Forza Italia thành lập tháng 1/1994 với người đứng đầu là thủ tướng Italia đương nhiệm Silvio Berlusconi.

Quốc khán Italia ngày 2/6.Hệ thống giao thông đa dạng với 19.394 km đường sắt, 654.676 km đường bộ, 2.400 km đường thuỷ, và 136 sân bay trên khắp đất nước.


Đế chế La Mã- sức mạnh quân sự lẫn kinh tế

Theo truyền thuyết thì người lập ra La mã là Romulus- con trai thần Mar(thần chiến tranh) vào năm 753 trước CN. Ban đầu La mã chỉ là một thành thị nhỏ với 3 bộ lạc người Latin cư ngụ. Thời kỳ đầu của chế độ được gọi là thời kỳ vương chính (753- 510 tr.CN), nhà nước do vua đứng đầu. Ngoài vua, tổ chức nhà nước có viện nguyên lão và đại hội nhân dân. Chế độ của họ tương tự như Hy Lạp thời đại Homer. Nhưng chính quyền của người La Mã lại bị rơi vao tay người Etrusque.

Từ TK VI- TK I tr. Cn được xem là thời kỳ Cộng hoà của đế chế La Mã. Không cam chịu ách thống trị của người ngoại tộc, năm 510 tr.CN người La Mã đã đuổi người Etrusque ra khỏi lãnh thổ, chấm dứt thời kỳ vương chính để lập ra chế độ Cộng hoà. Sự thay đổi này kéo theo sự tiến bộ vượt bậc của La Mã. La Mã nhanh chóng phát triển cả về quân sự lẫn kinh tế và phạm vi lãnh thổ. Năm 275 tr.CN, La Mã hoàn toàn làm chủ bán đáo Italia.

La Mã tiếp tục chính sách bành trướng lãnh thổ, đem quân xâm chiếm đế chế Carthage hùng mạnh trong suốt hơn 1 TK, từ 264 tr.CN-146 tr.CN. Kết quả là đế chế Carthage vĩnh viện bị xoá tên trên bản đồ thế giới. La Mã tiếp tục chiếm phần lớn đất đai ở Địa Trung Hải và châu Âu, lập ra thuộc địa ở Bắc Phi. Sau khi chiếm Syria vào năm 189 tr.CN. LA Mã lần lượt chiếm Macedonianăm 147 tr.CN, và Ai Cập năm 30 tr.CN.
Chiến tranh đã mang lại cho La Mã nhiều thuận lợi, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, nhiều nô lệ và tiên bạc. Chế độ Cộng Hoà dần được dân chủ hoá do kết quả những cuộc đấu tranh lâu dài và bền bỉ của tâng lớp bình dân.

Từ cuối TK I tr.CN., xã hội La Mã bộc lộ nhưng mâu thuẫn sâu sắc và phức tạp. Khuynh hướng bao lực ngày càng rõ rệt và công khai, dẫn đến sự xuất hiện của chế độ độc tài. Từ năm 60 tr.CN, Caesar, Pompeus, và Crassus lập nên chế độ tam hùng lần thứ nhất. Sau đó Caesar mưu toan thiết lập chế độ độc tài cá nhân nhưng ông bị ám sát năm 14 tr.CN. (Và trước đó nhà nước Pompey đã bị chôn vui dưới lòng đất, Cesar muốn đem quân cứu viện nhưng không kịp, chị còn biết đứng nhìn những cột bụi và khói khổng lồ bên kia vịnh Napoli.). Từ năm 43 tr.CN, chế độ tam hùng lần thứ hai của Antonius, Lepidus, Octavius được thiết lập. Từ TK I-II sau CN, La Mã phát triển cực thịnh. Từ TK II, La Mã mở rộng lãnh thổ bao gôm nửa lục địa Châu Âu, thuộc địa ở châu Phi và Trung cận Đông.

Đến TK III, La Mã bước vào thời kỳ suy vong. Bên trong, nô lệ nổi dậy, bên ngoài là cuộc tấn công của nguời Giecman. Năm 395, đế chế La Mã bị chia làm 2: đế chế La Mã phương Tây ở La Mã và đế chế La Mã phương Đông ở Constantinople. Đế chế Tây la Mã sụp đổ sau khi thủ lĩnh người Giecman Odoacer lất đổ Romulus- hoàng đế cuối cùng của đế chế. Đế chế La Mã phương Đông tồn tại đến năm 1453 và bị tiêu diệt bới quân Thổ, chấm dứt thời kỳ vương thịnh của La mã cổ đại.


Roma- thủ đô xinh đẹp

Tiền thân của Roma là thủ đô của đế chế La mã kiêu hùng. Theo truyền thuyết Roma được lập ra bởi Romulus, con trai của thần Mars. Sau khi sinh ra, hai anh em Romulus bị đem thả xuống sông nhưng may mắn được cho' sói cứu sống và nuôi dưỡng.

Roma nằm trên 7 ngọn đồi thuộc miền trung đất nước., cách bờ biển phìa Tây khoảng 25 km. Lúc đầu Roma chỉ là sự hợp nhất của những ngôi làng trên một số ngọn đồi ở miền trung. Vào TK VI và V tr.CN, Roma phát triển nhanh chóng và trở thàhh thủ đô của đế chế La Mã hùng mạnh, thâu tóm gần như toàn bộ các vùng đất ven Địa Trung Hải.

Trong thời kỳ hưng thịnh, nhiều công trình kiến đồ sộ được xây dựng và rất nhiều trong số đó còn lưu lại vết tích đến ngày nay. Từ TK III tr.CN, Roma nhiều lần bị xâm chiếm và phá hoại. Sự suy tàn của Roma khiến nó chỉ còn là thủ đô của tôn giáo. Các Giáo hoàng thời Phục hưng cũng để lại nhiều công trình xây dựng lớn, chủ yếu tập trung ở Vatican và những vùng phụ cận. Mãi đến cuối TK XIX, khi trở thành thủ đô của nước CH Italia, Roma mới khôi phục lại bộ mặt của mình. Mặt khác, do uy tín của toà thánh ở Roma ngày càng cao, góp phần tạo nên sự phồn thịnh của Roma.

Roma ngày nay là một Thành phố rộng lớn với khoảng 3 triệu dân, nhiều di tích văn hoá từ thời cổ đại và trung đại. Roma có những bảo tàng nghệ thuật, bảo tàng văn hoá, thư viện vào loại lớn nhất châu Âu cũng như thế giới. Công trình KHKT đầu tiên được xây dựng ở TP là hệ thống tiêu nước của TP, được xây dựng từ TK VI tr.CN mà những vết tích của nó vẫn còn tốn tại đến ngày hôm nay. Quảng trường Roma, nơi hội họp của nhân dân để bàn việc công cộng cũng được xây dựng từ TK V tr.CN. Lúc đầu nó chỉ là một cái chợ, về sau trở thành trung tâm kinh tế, chính trị và tôn giáo. Dưới sự trị vì của những vị vua độc tài thời đế chế, rất nhiều những công trình lớn được xây dựng quanh quảng trường, như: nhà thờ, nhà thờ của các nữ tu sĩ, đền thờ,... Nổi bật nhất là Colosseo, được xây dựng vào năm 80 sau CN dưới thời vua Tytuxi. Công trình kiến trúc vĩ đại này có chu vi 524 m, 80 bậc ghế ngồi với sức chứa lên đến 87.000 người. Thời cổ, đây là sân đấu võ, diễn ra những cuộc đấu man rợ giữa người và thú. Sân bị hư hại nhiều theo thời gian. năm 1972, chính phủ Italia đã quyết định phục chế lại sân này để thu hút nhiều hơn nữa khách du lịch.

Ở Roma có toà lâu đài mang tên "ngôi nhà vàng", được xây từ thời bạo chúa Neron. Nội thất của toà lâu đài này là những bức tranh đắp nổi hoành tráng và đẹp mắt, mà sau này trở thành mô típ cho các hoạ sĩ Italia trang trí những nơi khác. Những viện bảo tàng ở Roma chứa nhiều những hiện vật quý giá, những tác phẩm điêu khắc và hội hoạ có giá trị. Nhà thờ Jésus là nhà thờ chính được xây dựng năm 1568 theo đồ án của bậc thấy kiến trúc Michelangelo. Ngoài ra, Roma cổ đại còn có 2 bức tường bao quanh 7 ngọn đồi được xây dựng từ TK IV tr.CN mà ngày nay ta vẫn còn bắt gặp những dấu tích cũ. Đầu những con đường đi vào Roma cổ xưa, ngườii ta còn bắt gặp những ngôi mộ và nghĩa địa cổ.

Giữa lòng Roma ngày nay có 1 bảo tàng nghệ thuật và khí giới. Đó chính là pháo đài thiên thần. Được xây dựng năm 123 sau CN bằng đá ong và đá vôi bọc cẩm thạch. Chu vi pháo đài rộng 64 m, nằm trên một đế hình vuông. Năm 403, hoàng đế Honorius đã biến nơi này thành 1 pháo đài thật sự , và là một trong những tiền đồn quan trọng của bức tường thành Aurelian, hiện còn nguyên vẹn.

Một công trình nổi tiếng khác của Roma là đài phun nước Trevi, được hoàn tất năm 1762. Đây là một công trình kiến trúc tuyệt đẹp và thơ mộng, những cột nước trắng xoá, những quần thể tượng tuyệt mỹ quyện vào nhau mờ mờ ảo ảo lấp lánh mặt hồ. Theo tập tục, nếu ai đó muốn quay trở lại Roma, hãy quay lưng lại đài phun nước, ném một đồng xu qua đầu rồi ước nguyện...
« Last Edit: December 09, 2010, 01:36 PM by akazzurri »
AKAZZURRI

Offline Pavelvnr

  • Juventini
  • *
  • Posts: 1,844
  • Gender: Female
  • Người gác rừng bị lãng quên
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #1 on: December 09, 2010, 02:29 PM »
Mod post bài mà không ghi nguồn ha. Muốn treo cổ lên không thì bào ^0^

Từ trước cũng có tầm, 5-6 cái topic như thế này rồi, các bác cứ post một bài rồi chạy mất (hay là hết vốn), mấy tháng sau lại có người post lại  Hay là tập hợp lại nhỉ.
Phan Lâm An - Y!M: Pavluchkaaa

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #2 on: December 09, 2010, 03:52 PM »
Quote from: PAVELVNR
Mod post bài mà không ghi nguồn ha. Muốn treo cổ lên không thì bào ^0^

Từ trước cũng có tầm, 5-6 cái topic như thế này rồi, các bác cứ post một bài rồi chạy mất (hay là hết vốn), mấy tháng sau lại có người post lại  Hay là tập hợp lại nhỉ.
đợi em post xong rồi thì em sẽ ghi nguồn. ồ ra là cái này trước đây có người post rồi à.
AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #3 on: December 09, 2010, 03:54 PM »
Pizza, spaghetti, Pisa- Món ăn và biểu tượng của Italia

Cách Roma 300km là biểu tượng của đất nước Italia, tháp nghiêng Pisa. Tháp được xây dựng vào năm 1174, với chiều cao là 56,7 km, hình trụ đứng. Với khối lượng khổng lồ, 14.500 tấn nên nền móng sâu 3m không thể chịu đựng được sức nặng. Kết quả là tháp bị nghiêng. Khi hoàn thành thì ngọn tháp bị nghiêng khoảng 1,5m. Người ta giữ nguyên bề ngoài như thế để thu hút khách du lịch. Đến khi tháp nghiêng tới 5,2m, nguy cơ sụp đổ luôn rình rập, chính phủ Italia đã ra quyết định phục chế lại tháp. Và vào tháng 12 năm 2001, tháp mở cửa đón khách trở lại.
Giờ đây người dân Italia có thể yên tâm vì tháp có thể đứng nguyên vẹn như vậy trong vòng 300 năm nữa.

Pizza, ban đầu đây chỉ là một loại bánh của tầng lớp thứ 3 trong xã hội. Nguồn gốc chiếc bánh có xuất xứ từ đất nước thần thoại Hy Lạp. Pizza chỉ được biết đến lần đầu tiên khi nó được một người phụ nữ làm bành dâng lên cho Thái tử Italia Umberto I năm 1889. Và kể từ đó cái tên Pizza chính thức được thừa nhận (theo tên của người phụ nữ làm ra bánh).
Pizza đã vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ Italia lần đầu tiên khi chiến tranh TG II nổ ra. Ngày nay Pizza được cả thế giới biết đến như một món ăn sang trọng với nhiều kiểu dáng hấp dẫn.

Cũng giống như Pizza, mỳ ống Spaghetti cũng có nguốn gốc từ Hy Lạp. Mỳ ống là một trong những món ăn sang trọng và hấp dẫn nhất trong giới thượng lưu. Ban đầu mỳ ống không có dạng như ngày nay, nó chỉ là một dạng mỳ sợi từ Hy Lạp du nhạp vào Italia. Sau đó được người dân Italia cải biến để trở thành món mỳ ống tuyệt hảo của ngày hôm nay.


Milano- thủ đô kinh tế của châu Âu

Milano là một trong những thành phố quan trọng nhất Italia, thủ phủ vùng Lombardia, và là 1 trong 2 thành phố được coi là thủ đô kinh tế của châu Âu (cùng Barcelona). TP nằm trên đồng bằng Padanna, lọt giữa 2 dãy núi Alpes và Po, bao bọc bởi hai con sông Adda và Ticino.

Lịch sử Milano là câu chuyện về sự giàu sang, những mưu đồ và những cuộc đấu tranh dành độc lập. Trong suốt quá trình phát triển của mình , Milan mới chỉ biết đến thế nào là sự nghèo nàn sau chiến tranh thế giới thứ hai nhưng ngay sau đó lại được tái thiết và phát triển nhanh chóng hơn trước.

Những người Gaul đã định cư ở đồng bằng Padanna từ thời đồ đồng và đặt tên cho vùng là Mediolanium ( giữa đồng bằng). Năm 222 tr.CN , hoàng đế La Mã Scipio đã chiếm đóng Milan và biến vùng đất này thành một tỉnh tự trị , là thủ đô của Đế Chế đặt ở phương bắc. Vị trí của Milan khiến nó nhanh chóng trở thành một thành phố hùng mạnh về Kinh Tế của bán đảo Italia và là một phòng tuyến quan trọng chống lại rợ Barbarians khát máu đến từ phía Bắc Châu Âu. Milan đã trở thành một phần của đế chế La Mã vào thế kỉ thứ Ba sau công Nguyên , chỉ thua Rome về sức mạnh chinh phục. Sau đó thánh Ambrose đã biến thành phố thành 1 thế giới mới của Thiên Chúa Giáo.

Trong suốt 10 TK , Milan phát triển rực rỡ nhờ những hoạt động KT có quy mô lớn và một hệ thống thuỷ lợi tốt nhất thời bấy giờ. Vào TK 15, quyền lực từ dòng họ Visconti rơi vào tay dòng họ Sforza và cuối cùng trở thành thủ phủ của Dukedom of Milan( một vùng được cai quản bởi một quận công) . Đây là thời kì các khu vực của Milan được " chuyên môn hoá" về chức năng như khu đại học Ospedale Maggiore , hay khu văn hoá nghệ thuật Lazzaretto và là nơi thu hút nhiều nhgệ sĩ đến lập nghiệp ...Milan trở thành miếng mồi ngon của các đế quốc hùng mạnh Tay Ban Nha , Áo và Pháp...Cuối cùng dòng họ Sforza để Milan rơi vào tay Napoleon sau khi thoát khỏi ách nô lệ của Tây ban Nha và Áo. Lúc này Milan tiếp nhận hầu hết các nét tinh tuý của kiến trúc Pháp , hệ thống đường phố được quy hoạch tổng thế và còn nguyên vẹn cho đến ngày nay. Vào năm 1848, sau cuộc khởi nghĩa "Năm ngày của Milan" , nhân dân thành phố đã dành được độc lập và vào năm 1861, Milan trở thành một bộ phận của Vưong quốc Italia.

Ngày nay thành phố hầu như đã được tái thiết hoàn toàn mới sau Thế chiiến thứ II nhưng sự giàu sang quý phái vẫn tồn tại như một nét cố hữu của TP này. Những toà biệt thự của những dòng họ lớn, những đại lộ rợp bóng cây đi qua những hồ thiên nga duyên dáng , những nhà thờ Thiên Chúa uy nghiêm bên cạnh những cửa hiệu với những thương hiệu nổi tiếng và một thế giới kinh doanh sôi động ....tất cả đã làm nên một Milan có sức hút kì diệu....

Thành phố được chia làm 20 quận và có tên gọi từ lâu đời. Mỗi quận đều có 1 lịch sử thú vị góp vào lịch sử thành phố, từ khu phố cổ Importantisimo cho đến khu chung cư hiện đại San siro.

Khu phố cổ lại chứa trong mình một quận thời trang khổng lồ là những khu phố có giá thuê cắt cổ . Những khu quán bar , nhà hàng xen lẫn những công viên nhỏ với những hồ thiên nga làm tăng thêm vẻ quý phái cho những toà lâu đài của hơn 20 dòng họ lớn ở Milan.

Phía Tây thành phố là khu vực Ticinese- Navigli , một vùng có sự giao thoa văn hoá mới cũ rõ rệt. Ở đây có những toà nhà chung cư dành cho công nhân với những ban công sắt uốn cong kiểu đầu thế kỉ ..cho đến những chung cư hiện đại của các hoạ sĩ , nhà thiết kế, kiến trúc sư... Vì thế đây cũng là khu vực sôi động nhất thành phố với những buổi hoà nhạc, triển lãm văn hoá....

Quận Amendola- Fiera là nơi tập trung nhiều tổng hành dinh của những công ti mẹ khổng lồ . Vittoria là quận của những người trung lưu, quận Molise là nơi có nhiêu chợ trời lớn. Città Studi ( study city) nằm ở phía đông thành phố là một quận lớn tập trung rất nhiều trường Đại Học lâu đời về Khoa học , hoá học , y dược . Những trường ĐH từ những năm 20 vẫn nằm dưới những tán lá cây tạo nên một không khí tách biệt hẳn với bên ngoài.

Phía Bắc là quận Isolo, nơi có nhà ga trung tâm và những bệnh viện lớn của Italia . Sân San Siro nằm chếch xa hơn một chút về phía bắc, là một sân bóng tập trung hầu hết những người dân Milan vào những ngày cuối tuần bởi đây là nơi diễn ra các buổi ca nhạc và bóng đá- hai mối quan tâm lớn của họ...

Mùa thời trang ở Milan bắt đầu vào tháng tư và tháng chín..Các show diễn chủ yếu được trình diễn ở khu phố Importantisimo , nơi tập trung những cảnh quan đẹp & những cửa hàng với những thương hiệu nổi tiếng.


Đường Monte Napoleone được xây dựng từ thế kỉ 19 là con đường xa hoa nhất trong thành phố với những lâu đài và những của hàng lộng lẫy ở một phía. các của hàng trang sức hiệu Cartier, Faraone Tiffany, Buccellati, Cusi , các hiệu giày Salvatore Ferragamo, Vierrie, Bally...và thời trang Versace, Mila Schon...Khu phố gần đó là Sant Andrea cũng không kém phấn sôi động tập trung các hiệu Armani, Moschino, Valentino, Missoni...

Có một vấn đề nhỏ mà bất cứ du khách nào cũng thất vọng. Đó là khi họ đi du lịch vào mùa hè tại Milan và đến các của hiệu thời trang kinh điển chuẩn bị mua sắm thì họ sẽ được một ngày chờ đợi rồi về tay không. Bởi vì tất cả các cửa hàng ở Milan đều đóng cửa suốt mùa hè( trừ cửa hàng thực phẩm).

AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #4 on: December 09, 2010, 03:56 PM »
Venezia- Thiên đường trên mặt nước

Venezia là thành phố độc đáo nhất nhì trên thế giới : được xây dựng trên 118 hòn đảo nhỏ trong một vùng nước mặn. Cách đây 1500 năm , người dân Italia đã bắt đầu đóng hàng triệu cọc gỗ xuống đáy khu đầm phá rộng 550km2 ở bờ bắc vịnh Adriatique. Từ những chân gỗ đó người ta lấn được hơn 150 hòn đảo, nối với nhau bằng những kênh rạch. Giữa những toà nhà được xây dựng kiên cố và bề thế là hệ thống kênh đào và thuỷ lộ chằng chịt, đan kết vào nhau tạo thành một mạng lưới giao thông thuận tiện. Người ta tính rằng, trong thành phố có khoảng 200 kênh và 400 cầu để vượt qua các kênh đó. Nhiều cây cầu có từ thời cổ xưa và là những công trình kiến trúc quý giá, trong đó nổi tiếng nhất là cầu Rialto xây từ thế kỷ XVI, chỉ có một vòm bằng đá nối liền hai hòn đảo lớn của thành phố. Lối kiến trúc độc đáo có một không hai của những toà nhà, nhà thờ và cung điện nổi đã làm cho Venezia trở thành một thành phố lãng mạn nhất thế giới.

Về góc độ hành chính , Venezia là thủ phủ vùng Veneto và là thành phố du lịch lớn nhất Ialia ( cùng Rome, Firenze và Sorrento) với hơn 14 triệu khách tham quan mỗi năm trong khi dân số TP chỉ 310 nghìn người . Về VH nghệ thuật , đây là một tài sản vô giá về kiến trúc ....thành phố còn có một không khí đặc biệt khi "nước lên" nhận chìm các phố chính và khu quảng trường Markus. Hiện nay giữa lòng TP là một hồ nước mặn được UNESCO công nhận là di sản VH thế giới.

Vào giai đoạn suy tàn thứ nhất , Đế chế La mã đã dừng chân ở Bắc Châu Âu , mang đến chết chóc và sự tàn phá. Những cư dân Byzantine đã di cư đến vùng vịnh Adriatique và lấn biển bằng các cột chống. Vì thế Venezia ra đời từ năm 450tr.CN. và được điều hành bởi các vị tổng trấn do hội đồng nhân dân bầu ra.
Cách điều hành khôn ngoan cả về ngoại giao lẫn vũ trang đã khiến Venezia chiếm được cả bờ biển Istria, Dalmatia và Puglic, trở thành một thế lực mới , tự trị của dân Byzantine. Những năm huy hoàng của TP la khi nền CH " Serenissima " ( hoà bình) ra đời năm 1202 , tổng trấn Danolo giúp đỡ các hiệp sĩ của cuộc thập tự chinh thứ 4 chinh phục Constantinople. Nền CH này đã đạt được những thành tựu vĩ đại, đưa những con tàu Veneto ngự trị vùng biển Địa Trung Hải . Venezia đạt đến đỉnh cao khi đánh bại Duke of Milan ( tên của Milan lúc đó) và cùng là những thế lực chính của bán đảo Italia. Từ đó là quá trình suy thoái của nền CH Serenisima , năm 1797, Venezia mất quyền tự trị vào tay napoleon Bonarparte . Sau 70 năm , Venezia là lãnh thổ của Vương quốc Italia.


Văn hoá Venezia

Vào những ngày lễ hội hoá trang, thành phố này thu hút lượng du khách thật đáng kể. Lễ hội Carnival đầu tháng 2 là một lễ hội đầy màu sắc và sống động. Đây là một nét văn hoá đặc trưng không chỉ của thành phố này mà còn của cả nước Ý. Những chiếc mặt nạ tinh xảo, độc đáo và huyền bí dùng trong đêm hội hoá trang được các nghệ nhân khéo tay của thành phố chế tác đã nổi tiếng khắp mọi nơi. Ngoài ra, người dân Venezia còn tổ chức rất nhiều lễ hội văn hoá khác như: lễ hội đua thuyền Vogalonga; ngày hội đám cưới trên những chiếc thuyền trang trí hoa rực rỡ Festa della Sensa vào tháng 5; lễ hội Festa del Redentore mừng ngày thành phố thoát khỏi bệnh dịch khủng khiếp năm 1576 với những màn pháo bông ấn tượng của tháng 7 và rất nhiều lễ hội mang màu sắc tôn giáo khác trong tháng 11 và 12…

Bảo tàng Ca''Rezzonico có từ thế kỷ thứ 18 là một bảo tàng nổi tiếng nhất của Venezia và nó đã mở cửa trở lại vào tháng 6-2001 sau một thời gian dài sửa chữa. Đây là một tin vui cho thành phố và cả khách du lịch vì bảo tàng Ca''Rezzonico lưu giữ rất nhiều những tấm thảm thêu, đồ sơn mài và những chiếc ghế bành đặc trưng của thế kỷ 18 cũng như những tác phẩm nghệ thuật của các danh hoạ và nhà điêu khắc nổi tiếng như: Canaletto, Rosalba Carriera, Giambaltista Tiepolo và Francesco Guardi…


Nghệ thuật theo phong cách Byzatine , Gothic & phục hưng là những nét chính trong sự phát triển về NT ở Venezia. Phong cách Byzantine có mặt trong nững thế kỉ đầu tiên. Những cột đá cẩm thạch xuất hiện ở TP từ Trung Đông và những thánh đường duyên dáng thiết kế bởi những kiến trúc sư từ Ravena. Thánh đương San Markus là một công trình vĩ đại tiêu biểu cho phong cách La mã - byzantine , là một điểm sáng chói trong NT KT của dân tộc Veneto.


Bắt đầu TK XIII, phong cách Gothic xuất hiện nhử nó xuất hiện ở hầu hết các TP khác của Italia. Chứng tích kì vĩ nhất của phong cách này là lâu đài House of Gold ( Ca d''Oro) và Dodge.
Vào TK XVI, phong cách Phục hưng đã để lại dấu ấn đặc sắc nơi đây bằng các cấy cầu , nhà thờ....Tiếp theo đó là phong cách Baroque và Rocco và nghệ thuật đương đại. Sự pha trộn này đã để lại cho TP một di sản đồ sộ về Mĩ thuật và Kiến trúc.

Ngày nay, Venezia là một thế giới muôn màu mà bất kì ai cũng không thể không ngưỡng mộ. Mỗi khi thuỷ triêù lên, Venezia là một thế giới cổ tích . các lễ hội Carnival được tổ chức từ TK 18 vào tháng 2 hàng năm với các buổi vũ hội ngoài trời, các buổi hoà nhạc và triển lãm hội hoạ....Lễ hội tháng 3 của người Kito giáo tưởng nhớ những phong tục xưa bằng những con thuyền cổ lướt trên các kênh rạch và kết thúc bằng màn pháo hoa rực rỡ trên mặt nước.

Một điều nữa khiến Venise luôn thu hút được sự chú ý là Liên hoan phim Venise hằng năm… Ngày 6-8-1932, tại sảnh chính của khách sạn Excelsior người ta chiếu bộ phim Bác sĩ Jekyll và ngài Hyde của đạo diễn Rouben Mamoulian. Và ngày nay hàng năm được coi là ngày sinh nhật của LHP Venise. 25 bộ phim đến từ 7 quốc gia được chọn để tham dự LHP hồi ấy chỉ trao bằng khen chứ không có giải thưởng. Vậy là cùng với những thành phố khác của châu Âu như Berlin, Cannes, Venise thơ mộng đã trở thành nơi hội ngộ của các nhà sản xuất phim, đạo diễn, minh tinh màn bạc khắp thế giới. Và cuộc đua tranh giải Sư tử vàng tại LHP Venise lần thứ 59 sẽ diễn ra vào 29-8 đến 8-9-2002. Biểu tượng của LHP là con sư tư vàng cho bộ phim hay nhất( Leone d''Ôro) cũng là biểu tượng của thành phố. (phần này tên Venise không viết ra tiếng Italia vì để tên quốc tế của nó)

Tuy nhiên ngày nay người ta đang lo ngại một điều, một lần nữa thuỷ triều dâng lên và nhấn chìm TP như nó đã từng làm trước đó. Nếu như điều này xảy ra thì thật là đau sót cho một phần lịch sử của VH phục hưng.

Firenze– cái nôi của văn hóa Phục Hưng

Firenze

UNESCO đã thống kê rằng, 60% tác phẩm nghệ thuật quan trọng nhất của TG tập trung ở Italia, và ½ trong số đó nằm ở Florence.
Thành phố nhỏ bé với nửa triệu dân này là thủ phủ xứ Tuscany năm ở phía Tây Bắc Italia,được bao bọc bởi những ngọn đồi nho chín mọng của xứ Chianti, trải rộng theo 2 bờ con sông Amo hiền hoà.
Từng được coi là cái nôi của thời kỳ phục hưng nổi tiếng trong lịch sử phát triển của nhân loại, du khách có thể dễ dàng tìm ra chứng tích của giai đoạn hoàng kim này tịa bất cứ nơi nào trong thành phố, đông hành cùng nên VH hiện đại.

Ở Firenze có 10 chiếc cầu, mỗi chiếc là 1 công trình kiến trúc mang sắc thái của thời kì phục hưng. Cổ nhất và cũng nổi tiếng nhất là Ponte Vecchio nằm ở hạ lưu sông Arno. Cầu được xây dựng từ năm 1345 với ba nhịp vòng cung, đặc biệt hai bên thành cầu là là những toà nhà nhỏ, nhịp cầu chính giữa không có nhà và mặt cầu được mở rộng để có thể nhìn bao quát dòng sông và những chiếc cầu lân cận. Khách du lịch thường tụ tập về đây trên những chiếc cầu để chụp ảnh và ngắm nhìn nhau từ cầu này sang cầu kia. Kiến trúc của các cây cầu, nhà thờ, dinh thự quanh Firenze mang dấu ấn Byzantine và Gothic. Đại diện cho trường phái Gothic là thánh đường Duomo, được xếp vào hạng nhà thờ lớn thứ 4 trên thế giới với chiều cao 153 mét, lòng nhà thờ rộng đến 38m. Những thánh đường tại Florence còn mang dấu tích của các bậc thầy hội hoạ thời cận đại như de Vinci, Michelangelo và Botticelliqua những tác phẩm nghệ thuật dưới hình thức tranh và tượng làm tăng vẻ đẹp bên trong cũng như bên ngoài của các công trình.

Nhà thờ chính, 1 trong những công trình kiến trúc hoành tráng nhất Firenze xứng đáng là điểm đầu tiên được nhắc đến. Mái vòm khổng lồ của nó nổi bật trên nền trời xanh, lúc nào cũng thu hút tầm nhìn của du khách, bất kể họ đứng ở vị trí nào trong thành phố. Năm 1436, kiến trúc sư Brunelleschi, với phát minh táo bạo, đã úp lên phần chính hình tròn 6 cạnh của nhà thờ trung tâm(được xây dựng từ đầu TK XIV – nơi cầu nguyện lớn nhất cho tín đồ Cơ đốc giáo xứ Tuscane) chiếc mái vòm đồ sộ có chu vi 42m từ độ cao 100m. Đây là ví dụ điển hình nhất, mẫu mực nhất cho hàng loạt mái vòm khác của thời đại này. Alberti – 1 kiến trúc sư nổi tiếng khác đã nói nó "đủ lớn để tất cả dân chúng xứ Tuscany có thể dưới cái bóng của mình". Chiếc mái vòm này được nguời đời sau gọi là "Sự vĩ đại của nhân dân xứ Tuscany". Năm 1857, mặt truớc của nhà thờ bị gỡ xuống theo lệnh vua Ferdinand I, mãi thời gian dài sau này mới được phục hồi nguyên trạng bằng hàng chục tấn đá cẩm thạch xanh và trắng ốp bên ngoài. Bước vào bên trong hẳn không ai không sững sờ trước những bức bích hoạ lớn trên tường và trên mô tả quang cảnh địa ngục và thiên đường, trước khi vượt qua 463 bậc thang lên tới nóc nhà thờ để ngắm toàn cảnh TP Firenze.

Nằm bên cạnh nhà thờ chính đồ sộ là chiếc Campanile(Tháp Chuông) duyên dáng, mảnh mai được xây dựng từ năm 1334 và Bapistery(Nhà nguyện), từng được coi là đền thờ tà giáo, ngôi nhà nguyện hình bát giác này là công trình cổ nhất ở Firenze còn tồn tại đến ngày hôm nay. Nó thu hút du khách bằng những cánh cổng nặng nề mạ đồng thau, đặc biết ở phía Đông, được dân địa phương gọi bằng cái tên" Những cánh cửa tới Thiên Đường"

Trong suốt 27 năm trời, nghệ sĩ Lorenzo Ghiberti đã ghi dấu ấn của mình lên những cánh cổng này bằng các bức phù điêu mô tả lại câu chuyện trong Kinh Cựu ứơc.Tác phẩm của ông gần gũi với chủ nghĩa hiện thực 1 cách kỳ lạ. Người ta có thể tìm thấy chân dung của Ghiberti trên cánh cống thứ 4, ông đã cho 1 nhân vật trong huyền thoại mang bộ mặt của mình.

Tiền thân của Firenze là 1 trung tâm thương mại. Ngày nay du khách có thể đi dạo trên những con đường nhỏ dọc hai bên là những cửa hàng sang trọng mang tên tuổi lớn như Gucci, Versace, Moschio, Bally, Christian Dior hay Yves Saint Laurent. Đáng tiếc là giá cả ở đây lại thuộc loại trên trời.
Firenze tượng trưng cho một trung tâm văn hoá của châu Âu thời trung cổ và ngày nay trở thành 1 trong những trung tâm du lịch hàng đầu của Italia.Nơi đây quanh năm đông nghẹt khách du lịch trên khắp thế giới đổ về, mỗi ngày có đến 2.000 xe bus loại 50 chỗ cho khách du lịch.

Một công trình nổi tiếng khác của Firenze là bức tưọng chàng David, tác phẩm của bậc thầy Michelangelo. Tưọng được hoàn thành ngày 8/9/1504, nặng 6 tấn. Năm 1927, bức tưọng khổng lồ này phải hứng chịu nhiều thiệt hại trong vụ bạo động ở quảng trường Signoria. năm 1991, 1 hoạ sĩ Italia đã dùng búa đập vỡ ngón chân thứ 2 nơi bàn chân trái của bức tượng. Trong tháng 9/2004 , người ta tổ chức kỷ niệm sinh nhật lần thứ 500 của bức tượng bằng việc phục chế với chi phí lên đến 165.000 euro.
AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #5 on: December 09, 2010, 04:04 PM »
Vatican- Vùng đất thiêng liêng

Vatican

Được hình thành như một đất nước độc lập sau hoà ước Lateran năm 1929, thành phố rộng 0,44km2, nằm dọc bên bờ sông Tiber và vườn Gianicolo. TP có một piazza (giống như một quảng trường, 1 giáo đường San Peters và lâu đài Vatican. Thành phố được bao bọc bởi một bức tường cao và có hệ thống hành chính, ngân hàng riêng biệt. Miễn thuế cho các giám mục và Hồng Y.

Nhà nước Vatican là một nhà nước Thần quyền. Đứng đầu là Giáo hoàng La Mã. Vị Giáo hoàng được hội đồng Hồng y giáo chủ bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín, và chức vụ này được duy trì cho đến suốt đời. Hội đồng Hồng y giáo chủ gồm 136 người do Giáo hoàng bổ nhiệm. Giáo hoàng nắm quyền lập pháp tối cao và hành pháp. Tên gọi của Vatica xuất phát từ tên gọi của một khu đồi thấp trên bờ sông Tiber. Tại đây, từ thời tiền Trung cổ, người ta đã xây dựng một toà lâu đài nguy nga và đến cuối thế kỷ XIX, nó trở thành nơi trú ngụ thường xuyên của những người đứng đầu giáo hội Thiên Chúa. Sau khi Italia thống nhất và sát nhập TP Roma vào Italia năm 1870 thì quyền lực của Giáo hoàng cũng chấm dứt. Nhưng khoảng thời gian sau đó là mâu thuẫn dai dẳng giữa chính phủ và Giáo hội, để rồi sau đó là sự ra đời của nhà nước Vatican, biên giới được vạch ra, ngai vàng thiêng liêng được công nhận trên trường Quốc tế.

 Nhà thờ và quảng trường St Peter


Công trình Nhà thờ Thánh Peter kỷ niệm việc Thánh Peter được Chúa Jesus phong làm tông đồ chính. Vì Rome là thủ đô của đế chế La Mã, hai tông đồ Peter và Paul đã tới thành phố này để truyền đạo trong thiên niên kỷ đầu tiên.

Tuy nhiên, khi những người Thiên chúa giáo bị hành hình vì đức tin của họ, năm 64 sau công lịch, tông đồ Peter bị bắt và đưa tới đấu trường La Mã rồi hành hình trên cây thánh giá. Thi hài của ngài được đưa ra ngoài tường của trường đấu và ngài được chôn cất trong một ngôi mộ nhỏ có mái che ở sườn đồi Vatican.

Gần 300 năm sau, Constantine, vị đế vương theo đạo Thiên chúa đầu tiên của thành Rome tuyên bố rằng một nhà thờ sẽ được xây lên tại nơi đặt mộ của Thánh Peter. 1300 năm sau thì những chi tiết về ngôi mộ này đã bị quên lãng. Từ những năm 1930, Vatican không thể đưa ra được bằng chứng gì là thánh Peter được chôn cất bên dưới nhà thờ. Tới năm 1939, các công nhân tu sửa khu hầm bên dưới nhà thờ St Peter, nơi mai táng truyền thống của các giáo hoàng, đã có một phát hiện đáng kinh ngạc. Ngay bên dưới sàn nhà, họ phát hiện ra một ngôi mộ La Mã cổ. Và đó không chỉ có một ngôi mộ mà cả thế giới của người chết. Sau nhiều tháng đào bới, những người khai quật đã tìm đến một khu vực những ngôi mộ cổ hơn, gần khu vực bên dưới án thờ. Ngay dưới án thờ, người ta tìm thấy một khu vực chôn cất lớn và một bức tường sơn đỏ. Trong một hốc tường là xương của một người đàn ông.

Mái vòm của nhà thờ St Peter

Được xây dựng trong vòng hơn 100 năm, công trình nhà thờ St Peter là viên ngọc trên chiếc vương miện Vatican. Những người trông nom nơi này được gọi là sampietrini, có nghĩa là người của Thánh Peter. Họ trông coi 44 án thờ, 27 nhà thờ nhỏ, 800 chúc đài treo, 390 bức tượng, 135 bức khảm, và hơn 15.000 m2 nền nhà làm bằng đá hoa cương. Một năm 2 lần, các sampietrini lại lau rửa công trình baldachino của Bernini, một mái vòm bằng đồng cao 29 m ở phía trên án thờ của giáo hoàng.

Đội sampietrini được thành lập nên gần 400 năm về trước. Khả năng làm việc trên những độ cao ngất trời trên nhà thờ và dãy cột đã khiến cho họ có biệt danh là những “nhà nhào lộn không biết ngã”. Vào những dịp đặc biệt trong quá khứ chẳng hạn như khi một giáo hoàng đăng quang, các sampietrini sẽ chuẩn bị lễ treo đèn kết hoa. Trong dịp này, hàng nghìn chiếc đèn *****g và đuốc dược đặt khắp nơi ở mặt tiền và trên dãy cột nhà thờ St Peter. Thậm chí nơi đỉnh mái vòm chót vót cũng được trang trí bằng những ngọn đèn.

Cho đến năm 1506, nhà thờ St Peter, nhà thờ chính ở Vatican vẫn còn rất nhỏ và ọp ẹp. Học theo các hoàng đế và sultan, Giáo hoàng Julius II quyết định tạo cho nhà thờ xưa cũ một mái vòm. Ông thuê kiến trúc sư Donato Bramante làm việc này. Ý tưởng của Bramante khá đơn giản: một chữ thập kiểu Hy Lạp với những cánh toả ra chung quanh mái vòm trung tâm. Nhưng cả Bramante lẫn giáo hoàng đều qua đời trước khi công trình được hoàn thành. Năm 1546, một chàng nghệ sĩ trẻ từ Florence có tên Michelangelo được toàn quyền xây nhà thờ St Peter, nhà thờ lớn nhất của đạo Thiên chúa giáo.

Mặc dù thiết kế đại đa phần Nhà thờ St Peter (hoàn tất năm 1626), Michelangelo từ chối nhận tiền thù lao cho công trình của mình.
Trước khi chết, ông Bramante thuyết phục Giáo hoàng lệnh cho Michelangelo vẽ trên trần nhà thờ Sistine, vì nghĩ rằng Michelangelo - một nhà điêu khắc chứ không phải một hoạ sĩ - sẽ làm hỏng việc. Bramante đã lầm to. Những bức tranh vẽ trên tường Nhà thờ Sistine được coi là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của nghệ thuật phương Tây.

Michelangelo đã thiết kế lên một mái vòm khiến cho công trình Pantheon gần đó cũng phải lu mờ. Về đường kính thì nó nhỏ hơn Pantheon, nhưng cao hơn nhiều. Làm gần như hoàn toàn bằng đá nặng, công trình vòm có đường kính 42 m và chiều cao 138 m. Để đỡ được một mái vòm khổng lồ như thế, các thợ xây phải đặt 3 vòng sắt bên trong lớp đá của mái vòng. Công trình được hoàn thành vào năm Tuy nhiên, về sau những vết rạn đã xuất hiện xung quanh chân mái vòm. Đến thế kỷ 16, các kỹ sư của Vatican phải thêm vài vòng đỡ khác, trong một đợt sửa chữa khẩn cấp. May sao, giải pháp này đã đương đầu được với thời gian.

Quảng trường St Peter

Bernini thiết kế quảng trường St Peter, dưới thời Giáo hoàng Alexander VII (1655 -1667). Mục đích của ông là mở rộng mặt tiền nhà thờ để hàng nghìn người có thể nhìn thấy và được giáo hoàng ban phước.

Vì vậy ông tạo ra một hình êlip, với 4 dãy cột bao bọc quảng truờng. Những dãy cột tượng trưng cho những cánh tay của nhà thờ. Phía trên có tổng cộng 140 bức tượng thánh. 90 bức là tác phẩm của những phụ tá của Bernini, chủ yếu là Lazzaro Morelli và Giovanni Maria de Rossi. Năm 1702, giáo hoàng Clemens XI quyết định đưa thêm 50 bức tượng. Nổi lên ở giữa là huy hiệu khổng lồ của Alexander VII.

Ở trung tâm của quảng trường là một tượng đài Ai Cập cổ cao 25,5 m, nặng 320 tấn. Năm 1586, khi các công nhân chuyển nó về đây theo lệnh của Giáo hoàng Sixtus V, họ đã cẩn thận xem kỹ quả cầu bằng kim loại ở phía trên tượng đài. Theo lời đồn đại thì hài cốt của Caesar được giấu ở đây, nhưng họ không tìm được gì.


Một vài nét về Vatican

Hiến pháp: Hiến pháp tòa thánh 1967

Quyền bỏ phiếu: các hồng y dưới 80 tuổi.

Cơ quan hành pháp: Đứng đầu chính phủ: Giáo hoàng Paul II.
Ngoại trưởng: Hồng y Angelo Sodano
Nội các: Ban tòa thánh do giáo hoàng chỉ định.

Bầu cử: Giáo hoàng được Hội đồng các hồng y bầu ra và đảm nhiệm chức vụ suốt đời. Kỳ bầu cử gần đây nhất được tiến hành vào ngày 16/10/1978. Chức vụ ngoại trưởng do giáo hoàng chỉ định.

Cơ quan lập pháp: Ban tòa thánh một viện.

Cơ quan tư pháp: không có, thường do Italy đảm trách.

Quân sự: Quốc phòng là trách nhiệm của Italy. Các lính gác Thuỵ Sĩ canh giữ các lối vào thành phố Vatican để đảm bảo an ninh và bảo vệ giáo hoàng.

Ngày nghỉ quốc gia: ngày đăng quang của Giáo hoàng John Paul II, 22/10.
AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #6 on: March 26, 2011, 10:49 AM »
Julius Caesar

80 tr CN lần đầu tiên Tham gia quân đội ở bên Thổ. Tại đây ông đoạt được biểu tượng cao quý của công dân vì lòng can đảm riêng của ông

60tr CN Caesar cùng với Gnaeus Pompeus và Marus Crassus thành lập thế chế Tam Nhân đầu tiên và được chọn làm quan Tống trấn năm 59 tr CN

58-50 tr CN Chinh phục Gaul

49 tr CN Caesar đẩy mạnh cuộc nội chiến

45 tr CN Caesar được chỉ định làm nhà lãnh đạo tối cao mãi mãi

15 tháng 3 năm 44 tr CN Caesar bị ám sát tại La mã

Caesar là còn ngưòi có tài hùng biện, viết văn, chiến đấu và làm chính trị, Ngoài trận tuyến ông chứng tỏ là một người chỉ huy xây dựng chiến thuật và tổ chức bậc thầy. Nhiều khi ông tỏ ra tàn nhẫn trong việc theo đuổi những lợi ích cá nhân của mình.

Với tư cách là quan Tống trấn, ông đưa vào nhũng sự thay đổi có tính cách xây dựng. Rồi chiên dịch 8 năm với đầu óc của bậc quan sư tuỵệt vời của ông đã chinh phục đựoc toàn đất Gaul. Năm 49 tr.CN ông trở về nhận phần thưởng cho những đạo quân trung thành và vinh dự cho bản thân ông, nhưng ông nhận thấy mình bị công bố là kẻ thù của công chúng. Vì vậy ông đem toàn bộ binh mã về La mã đánh đuổi những người đối kháng và trở thành nhà độc tài năm 40 trCN. Ông đã có nhiều cuộc cải cách mang tính chất sâu rộng. Đáng tiếc năm 44 trCN Caesar bị ám sát. Mark Antony - bạn ông và Octavius - người cháu và là con nuôi của ông đã báo thù cho cái chết này. Năm 31 trCN Octavius trở thành chủ nhân của thế giời La Mã (Mark Antony và Octavius cãi nhau rồi xảy ra chiến tranh , Antony thua trận), và năm 27 trCN lấy tên là Augustus. Tiếp tục xây dựng thời kỳ hưng thịnh nhất của đế chế La mã.

Léonardo de Vinci

Léonardo chào đời vào ngày 15/4/1452, cùng ngày với Savonarole -một giáo sĩ Kytô chuyên dựng giàn hỏa để thiêu sống những kẻ bị tố cáo là kẻ gây rối và chống đạo cho đến khi chính ông cũng bị bắt và đưa lên giàn hỏa thiêu ấy. Đó là năm Christophe Colombus chưa mừng sinh nhật lần thứ nhất của mình, và kinh thành Constantinople rơi vào tay đoàn quân Thổ sau đó 365 ngày. Đó là một cột mốc thời gian, mà theo nhiều sử gia, đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ Trung cổ.

Bố của Léonardo, ông Ser Piero đã có cuộc tình trăng hoa với nàng Caterina. Từ sự vụng trộm ấy, Léonardo chào đời với tư cách là một đứa con hoang - điều gây ảnh hưởng rất mạnh đến cuộc sống tình cảm của ông sau này. Serge Bramly, người được xem là tác giả của cuốn tiểu sử đầy đủ và trung thực nhất về Léonardo de Vinci, cho biết chính Léonardo đã viết rằng: “Nếu người nam ái ân trong trạng thái coi khinh người nữ và kiềm hãm chính mình thì sẽ tạo nên những đứa trẻ nóng tính, không đáng tin cậy. Ngược lại, nếu cuộc ái ân được tiến hành trong tình yêu lớn, ham muốn lớn của cả hai người, đứa bé sinh ra sẽ là một đứa trẻ thông minh, năng động, vui sướng, lanh lợi”.

Là con ngoài giá thú nên Léonardo ít có cơ hội trông thấy mẹ ruột (vì Caterina đã nhanh chóng thành hôn với một người đàn ông khác). Léonardo sống trong một thế giới toàn đàn ông với bố, ông nội, chú và người cha tinh thần Andrea del Verrocchio - một nghệ sĩ chuyên sản xuất hàng theo yêu cầu của dòng họ Médicis (gia đình quý tộc giàu có nhất Florence).

Léonardo đến sống và học nghề của người cha tinh thần tại Florence trong suốt 12 năm. Xưởng (botega) của del Verrocchio là nơi lui tới của mọi tài năng nghệ thuật trẻ tuổi của Florence thời ấy, trong đó có cả Perugin và Botticelli. Tất cả các loại hình nghệ thuật đều có mặt trong botega này, từ điêu khắc, hội họa, âm nhạc, đến dệt kim, làm mộc, sắt... và thậm chí cả nghiên cứu cơ thể con người. Cũng từ đây mà sau này xuất hiện thêm một Michelange và Rafael.

Năm 1952, người ta phát hiện trong Bảo tàng Topkapi ở Istanbul một bức thư gửi tiểu vương Thổ mang chữ ký của Léonardo. Trong thư, nhà danh họa đã trình bày về công trình cầu bắc ngang sông Sừng vàng.

Cây cầu này sau đó đã trở thành nền tảng cho sự ra đời cầu Galata, một biểu tượng của Thổ Nhĩ Kỳ mà du khách ngày nay vẫn thấy trên các tấm bưu thiếp.

Thành Rome dưới thời César Borgia chìm trong những cuộc tranh giành chính trị dẫn đến các vụ thảm sát đẫm máu, trong khi đó, Léonardo lại là người phi chính trị. Ông quyết định rời Rome và trở về Florence bình yên. Tại đây, Léonardo tiếp tục niềm say mê sáng tạo, nhưng không phải để phục vụ chiến tranh mà để chuyển hướng dòng chảy của con sông Arno, phát minh máy móc và thuần hóa năng lượng phục vụ con người. Léonardo coi quân sự đơn thuần chỉ là một cỗ máy giúp phát triển kiến thức và sức sáng tạo của mình. Bức bích khảm "Trận chiến Anghiari" của Léonardo (bị thất lạc đến nay vẫn chưa tìm thấy) mô tả nỗi kinh hoàng của chiến tranh. Đây là bằng chứng cho thấy ông là người theo “chủ nghĩa ôn hoà”. Sau khi hoàn thành sơ đồ chiếc tàu ngầm đánh chìm tàu đối phương từ dưới mặt nước, Léonardo cũng ghi lại trong sổ tay rằng: “Tôi không muốn tiết lộ cho bất kỳ ai về phát minh này vì bản năng ma mãnh tự nhiên của con người rất đáng sợ”.

Những ngày ở Florence, Léonardo tiếp tục chăm bón cho "khu vườn bí mật" của riêng mình. Trong những năm 1505-1515, ông đã tạo nên tuyệt tác "La Joconde" nổi tiếng, mà cho đến nay chưa ai biết chính xác ông lấy ý tưởng từ đâu, như thế nào, ai làm người mẫu và ai là nguồn cảm hứng. Ông còn vẽ nhiều tranh về đề tài giải phẫu học - một trong những niềm đam mê lớn nhất trong cuộc đời. Hai bàn tay ông từng mổ xẻ 30 thi thể và vẽ lại chi tiết trên 200 tờ bản thảo. Chính việc làm này đã khiến ông bị Đức Giáo hoàng Léon X kết tội, nhưng lại được nền y học thế giới biết ơn.

Một thời gian sau, Léonardo bắt đầu cảm thấy mệt mỏi và quyết định nghỉ hưu. Tuy nhiên, ông vẫn dồi dào sức sáng tạo. Léonardo tiếp tục giới thiệu với vua Pháp Francois I những sáng kiến mới, trong đó có con sư tử máy tự động có thể đi vài bước rồi mở *****g ngực tung ra bó hoa Ly''s - loài hoa biểu tượng cho vương quyền Pháp. Tác phẩm này đã khiến Vua Francois I không giấu nổi niềm thích thú và quyết định dành cho Léonardo một khoản lương hưu hậu hĩnh cùng lời mời đến sống trong triều đình Pháp bên bờ sông Loire. Lúc ấy, Léonardo de Vinci đã tròn 65 tuổi. Ông sống những phút cuối đời bên Vua Francois I, ngày ngày chia sẻ với đức vua về dòng chảy sáng tạo của mình.

Vào một ngày hè êm ả (2/5/1519), Léonardo trút hơi thở cuối cùng. Sự nghiệp của Léonardo được kết bằng những chuỗi phát minh hữu ích phục vụ cho cuộc sống của con người, chúng luôn hừng hực trong hơi thở của ông. Léonardo de Vinci đã ra đi, song những gì ông để lại cho nhân loại là vĩnh cửu. Đó là hàng nghìn bức vẽ bằng phấn, chì, bút lông, ngòi sắt nhúng mực và hàng trăm cuốn sổ tay đầy ắp sáng kiến..., tất cả vẫn còn nguyên vẹn cho đến hôm nay.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng Léonardo nổi tiếng có lẽ nhờ các bức họa. Số lượng tác phẩm của ông không nhiều, khoảng 30 bức, song chúng đều là tuyệt tác, từ "La Joconde" (sáng tác trong 10 năm), Léda (5 năm), đến "Đức Trinh Nữ bên tảng đá" và "Thánh nữ Anna" (14 năm). Năm 1994, tỷ phú Bill Gates đã phải chi 30,8 triệu USD để dành quyền sở hữu cuốn "Codex" - bản thảo quý giá nhất của thiên tài Léonardo de Vinci.
AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #7 on: April 14, 2011, 08:51 AM »
Nét nghệ thuật của người Italia cổ

Giới khảo cổ vừa phát hiện loại hình nghệ thuật hội hoạ vẽ ma quỷ và yêu quái kỳ lạ của người Etruscan tại nghĩa địa làng Sarteano, Tuscan, cách Siena, Italia, 90km. Theo các học giả, đây có thể là một trong những phát hiện quan trọng nhất trong thời gian gần đây.

Hình vẽ những con yêu quái được bảo quản cực tốt trên bức tường bên trái của một ngôi mộ có từ thế kỷ thứ tư trước CN.

Nhà khảo cổ Alessandra Minetti cho biết: ''''Cho tới nay chúng tôi đã nhìn thấy tranh vẽ cảnh tiệc tùng, ma quỷ, quái vật giống rắn và một chiếc quách đá bị vỡ làm nhiều mảnh, có lẽ là do những kẻ cướp mồ''''.

Là một trong những dân tộc bí ẩn nhất ở châu Âu, người Etruscan đã lập nên nền văn minh phức tạp nhất tại Italia, trước cả người La Mã. Họ xuất hiện vào khoảng năm 900 trước CN và thống trị phần lớn lãnh thổ của quốc gia này trong 5 thế kỷ. Tuy nhiên, lịch sử của họ vẫn là điều bí ẩn.

Lần đầu tiên, người Etruscan bị La Mã đánh bại vào thế kỷ thứ tư trước CN và trở thành công dân La Mã vào năm 90 trước CN. Họ không để lại các tác phẩm văn học ghi lại nền văn hoá của mình. Rất ít dấu vết về ngôn ngữ phi Ấn Âu, khó hiểu của dân tộc này còn tồn tại. Chỉ có những ngôi mộ được trang trí lộng lẫy mà họ để lại phía sau giúp giới khoa học hiểu lờ mờ về văn minh Etruscan.

Theo Minetti, ngôi mộ mới được phát hiện thuộc về một gia đình giàu có. Nó cho thấy Sarteano không chỉ đơn thuần là một ngôi làng ở miền quê mà đã từng là trung tâm chính trị quan trọng. Những hình vẽ sặc sỡ trong ngôi mộ phản ánh sự thay đổi về khái niệm liên quan tới cái chết của người Etruscan. Là một dân tộc thích vui đùa, khi sắp suy tàn, họ đã chấp nhận quan niệm của người Hy Lạp về thế giới bên kia. Thế giới đó bị ma quỷ quấy phá.

Người có mái tóc đỏ trong bức tranh chắc chắn là một loại ma quỷ. Điều này được khẳng định bởi hình dáng đen sì ở bên cạnh bà ta. Người Etruscan thường sử dụng nó để mô tả ma quỷ. Cưỡi trên một cỗ xe ngựa do quái vật mình người đầu chim kéo, nhân vật ma quỷ này có lẽ đã tới để đưa linh hồn người chết về âm phủ.

Các học giả vẫn chưa chắc liệu đó có phải là Charu (người lái đò bến Mê trong thần thoại Hy Lạp đưa linh hồn người chết về thế giới bên kia), thường được thể hiện dưới dạng một người đàn ông có râu và màu da hồng hào hay một loại quỷ lạ. Họ hy vọng khám phá nhiều manh mối hơn khi công việc khai quật tiếp tục.

Các bức tranh khác trong ngôi mộ mô tả mọi người đang dự tiệc với tâm trạng vui vẻ. Nó thể hiện tính tự nhiên của nghệ thuật hội hoạ Etruscan những buổi đầu.


AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #8 on: April 14, 2011, 08:55 AM »
Lịch sử Italia

Italy thời kỳ đồ đá

Khoảng 200 000 năm trước, bắt đầu có cư dân sinh sống ở Italy. Dấu tích để lại là những mảnh đá lửa và dấu vết những ngôi làng của họ được khai quật tại Torrimpietra phía tây Rome.

Sau đó những người Neanderthals (chỉ người cổ thời kỳ còn sống trong hang động) đã sống ở gần Rome vào khoảng 100 000 năm trước.

Nhưng những người đầu tiên có quan hệ với người Italia hiện đại đến vào thời kỳ đồ đá cũ, khoảng những năm 10.000 Tr.CN. Họ để lại nhiều công cụ đá hơn và những hình động vật khắc trên các vách hang động và trên xương nhưng không đáng chú ý như những bức vẽ trong hang động ở Pháp và TBN thời kỳ này. Đến lúc này dân cư ở Italy vẫn rất thưa thớt, chỉ là số lượng nhỏ.

Có 1 sự thay đổi lớn vào khoảng những năm 5.000 Tr.CN, khi những người thuộc kỳ đồ đá mới đến Italy. Những người này có lẽ đến từ Hy Lạp, trên những con thuyền vượt Đại dương. Trước khi đến Italy họ đã biết các kỹ thuật đồ đá cũ: họ biết trồng trọt, làm gốm và xây nhà. Họ cũng mang theo lúa mì, bò và cừu. Dấu tích của họ được tìm thấy ở miền Nam Italy. Họ thường đào hào xung quanh làng để chống thú dữ và ngăn người lạ. Xương của dân cư tìm thấy tại 1 ngôi làng tìm được, ở Ripa Tetta, cho thấy 1 nét đặc biệt: răng của phụ nữ trong làng bị kéo giãn ra 1 cách có mục đích, có thể là mục đích làm đẹp (làm cho môi mỏng hơn). Nói chung họ đã có những hốc sâu răng do ăn nhiều bánh mì và cháo đặc (nên chất bột tạo đường phá họa răng). Đã có nhiều xung đột, bằng chứng là những mảnh xương vỡ tìm thấy trong ngôi làng, có cả xương nam giới và phụ nữ. Nhưng họ cũng khỏe mạnh hơn những người thời kỳ sau vì họ được rèn luyện bằng đi lại nhiều, và do họ sống thành các nhóm nhỏ nên họ không bị mắc các bệnh dịch.

Khoảng 3.500 Tr.CN, ở cuối thời đồ đá mới, những người này đã mở rộng dần lên phía bắc Italy, thậm chí đã đến thung lũng Po. Rồi xu hướng ấm lên của thời tiết ngay sau đó đã làm cho miền nam Italy trở nên khô, không thích hợp cho canh tác khiến họ rời bỏ miền nam Italy và di chuyển về phía bắc. Một bộ phận của họ định cư ở gần Rome.
Khoảng 3000 TCN, khi kết thúc thời kỳ đồ đá, những người này bắt đầu học được cách quay tơ và dệt vải qua giao lưu buôn bán với những người Hy Lạp láng giềng. Họ cũng bắt đầu buôn bán những mẩu kim loại nhỏ.

Italy thời kỳ đồng thau (bronze)

Dân cư ở Italy đã học sử dụng đồng thau từ những người ở Tây Á, có lẽ là từ người Phoenicians qua giao lưu buôn bán. Nhưng lúc đó đồng thau rất đắt, nó được chế từ đồng đỏ và thiếc, trong khi ở Italy không có thiếc. Vì vậy phần lớn dân cư vẫn sử dụng đồ đá, gỗ và xương làm công cụ. Chỉ những người giàu mới có đồ đồng thau.
Vào thời kỳ đồng thau, Italy có rất nhiều thành thị độc lập, đôi khi liên kết lại trong chiến tranh.

Thỉnh thoảng trong thời kỳ này, giống như ở Hy Lạp, những người Ấn Âu tràn vào Italy từ phía đông bắc. Ngôn ngữ của những kẻ di dân mới dần trở thành những ngôn ngữ của Italy: có cả Latin lẫn Oscan, Sabine và 1 số ngôn ngữ khác ngày nay không còn biết đến. Những người Ấn Âu này du nhập theo cách sử dụng xe ngựa, bàn quay làm gốm và có thể nhiều phát minh khác của họ.

Thời kỳ dưới sự thống trị của những người Etruscans

Khoảng 700 Tr.CN, có những cư dân thời kỳ đồng thau bắt đầu biết chèo thuyền đi lại xung quanh Địa Trung Hải do ảnh hưởng từ những người Hy Lạp và Phoenicians. (Người Phoenician chỉ chung ngươi ở vương quốc cổ Phoenicia vùng ngày nay là Syria, Lebanon và Israel). Các nhà viết sử gọi họ là những người Etruscans. Trước đây người ta nghĩ rằng những người Etruscans đến từ Tây Á do tin vào sử gia Herodotus nhưng ngày nay người ta biết rằng những người Etruscans là 1 bộ phận của dân cư Italy. Họ sống chủ yếu ở miền bắc Italy. Những người Etruscans học được rất nhiều thứ từ người Hy Lạp và người Phoenicians mà người Latins sống xung quanh Rome còn chưa biết. Những người Etruscans xây các thành phố với tường thành bằng đá. Họ xây các đền thờ lớn bằng đá. Họ đào kênh và mương để dẫn nước vào cánh đồng của họ. Họ đã tổ chức được chính quyền có vua. Sau đó một số cư dân khác ở Italy cũng bắt đầu học làm theo những gì người Etruscans đã làm.

Trong cùng khoảng thời gian, cũng như người Etruscans, rất nhiều người Hy Lạp cũng đến chiếm nhiều nơi ở Italy làm thuộc địa, chủ yếu ở miền nam, nơi họ tiếp quản phần lớn đất của người Etruscans. Những người Hy Lạp này đã lập nên thành phố Naples nơi trở thành 1 cảng quan trọng.

Những người Etruscans giao lưu buôn bán rất mạnh với những người Hy Lạp và những người Phenicians. Họ chuyển gỗ xẻ, lông thú và có thể là cả nô lệ sang phía đông và mua về đá quý, hương liệu, gia vị và bình gốm Hy Lạp. Phần lớn các bình gốm Hy Lạp trong các bảo tàng ngày nay là được tìm thấy ở Italy, trong các mộ táng của người Etruscans.

Thành phố Rome nằm giữa Italy, đồng thời là địa điểm tốt để qua con sông Tiber nên là nơi người Etruscans muốn nắm giữ. Trong 1 thời gian, Rome đã nằm dưới quyền của các vua Etruscan. Các vua này cũng cho xây các tường đá vững chắc, các đền thờ bằng đá và kênh đào dẫn nước.

Thời kỳ cộng hòa ban đầu

Khoảng 500 Tr.CN, ngay khi nền dân chủ bắt đầu được thiết lập ở Athens, những quí tộc Roman (những người giàu) đã quyết định rằng họ không muốn ở dưới sự cai trị của các vua Etruscans nữa. Quyền lực của các vị vua này không ảnh hưởng gì tới dân nghèo nhưng các quý tộc thì muốn có thêm quyền lực cho riêng họ. Nhưng giới quý tộc không thể tự mình mạo hiểm đương đầu với các vua chúa. Họ cần dân nghèo chiến đấu cho họ. Vì vậy quý tộc đã hứa hẹn trao cho dân nghèo nhiều quyền trong chính quyền mới nều họ chống lại các vua chúa. Dân nghèo đã đồng ý và cùng với quý tộc lật đổ các vua Etruscans.

Nhưng sau khi vua chúa đã bị lật đổ thì các quý tộc Rome lại không muốn trao cho đám dân nghèo bất cứ quyền lực gì. Do đó các lãnh đạo của đám dân nghèo rời bỏ thành phố và bãi công. Họ từ chối làm việc trừ phi họ có được 1 số quyền. Các quý tộc Roman đã phải nhượng bộ, để cho dân nghèo (trừ phụ nữ và nô lệ) có quyền bầu cử.
Tuy nhiên dân nghèo ở Rome không có được nhiều quyền như ở Athens. Thay vì được bỏ phiếu cho những vấn đề cụ thể, các công dân Rome phải bầu chọn ra những người đứng đầu, những người sẽ quyết định thay họ, giống như chọn các đại cử tri để bầu ra tổng thống ở Mỹ. Đồng thời chỉ những quý tộc mới được chọn vào Viện nguyên lão (Senate) của Rome.

Nhiều năm sau nữa, dân nghèo Rome vẫn cảm thấy không được đối xử bình đẳng và đấu tranh. Cuối cùng họ buộc được giới quý tộc phải chấp nhận các quan bảo dân (tribune) do họ bầu ra. Các quan bảo dân có quyền tham gia các cuộc họp của Viện nguyên lão và có quyền phủ quyết bất cứ điều gì mà Viện nguyên lão đưa ra bất lợi cho dân nghèo. Dân nghèo cũng buộc giới quý tộc phải ghi ra các luật lệ và đặt ở 1 quảng trường công cộng nơi bất cứ ai cũng có thể đọc. Các luật này được gọi là Bản 12 điều, giống như Bản điều luật Hammurabi của người Babylonian, hiểu như hiến pháp, để nhắc nhở giới quý tộc.

Trong khi đó, dần dần từng ít một, quân đội Roman chinh phục các thành phố xung quanh. Trong các cuộc chinh phục đó, khi chiếm được 1 thành phố, người Roman không lấy tài sản, phá hủy các tòa nhà rồi rút đi mà bắt thành phố đó phải lệ thuộc vào Rome, trở thành 1 phần của Rome. Dân cư trong các thành phố đó thường cũng được quyền bầu cử nhưng phải đóng thuế và đi lính cho Rome. Bởi vậy, càng xâm chiếm được nhiều, Rome càng giàu có và quân đội của Rome càng thêm đông đảo. Và Rome lại càng dễ dàng chinh phục các thành phố khác. Một cách nhanh chóng, Rome đã chiếm được phần lớn miền trung Italy.

Sau đó Rome bắt đầu chinh phục nam Italy. Người Roman có 1 ý tưởng mới, Rome sẵn sàng giúp đỡ 1 thành phố nào đó trong các cuộc chiến tranh nhưng sau khi giúp đỡ thành phố này đánh bại kẻ thù, Rome để lại binh lính với tuyên bố để bảo vệ an toàn cho thành phố. Bằng cách đó Rome lại chiếm được toàn bộ nam Italy. Kết thúc là việc 1 số thành phố của người Hy Lạp ở nam Italy yêu cầu được giúp đỡ chống lại Pyrrhus, vua của Epirus (quốc gia cổ ở vùng tây Hy Lạp và nam Albania). Pyrrhus cho rằng ông ta sẽ giống như Alexander Đại đế chinh phục thế giới, đã đem theo nhiều quân và voi từ Ấn Độ nhưng cũng bị Rome đánh bại.

AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #9 on: April 14, 2011, 09:05 AM »
Các cuộc chiến tranh với người Punic (Carthaginian)

Cuộc chiến tranh thứ nhất

Khoảng năm 274 Tr.CN, Rome đã chiếm hết Italy. Khi đó 1 thành phố của người Hy Lạp ở Sicily yêu cầu Rome giúp đỡ trong 1 cuộc chiến tranh. Sau 1 thời gian lưỡng lự vì Sicily ở quá xa, cuối cùng Viện nguyên lão cũng quyết định gửi quân giúp đỡ với ý định chiếm cả Sicilly.

Lúc đó Sicilly chia làm 2 phần, 1 phần là các thành phố của người Hy Lạp, phần kia là các thành phố của người Carthaginian (Những người Punic hay những người Carthaginian là chỉ những người Bắc Phi cổ).

Ban đầu quân Roman thua vì phải đến Sicilly bằng thuyền trong khi họ không giỏi về kỹ năng chèo thuyền. Nhưng người Roman đã học và sao chép nhanh chóng thuyền của người Carthaginian. Và cuối cùng họ đánh bại những người Carthaginians trong cuộc chiến tranh thứ nhất. Người Roman chiếm toàn bộ đảo Sicily, buộc các thành phố ở đây đóng thuế cho Rome và dưới quyền 1 viên toàn quyền người Roman.
Lãnh thổ chính của người Carthaginians là Carthage ở châu Phi, quân đội Roman không thể chiếm đóng, nhưng Carthage phải trả cho Rome 1 khoảng tiền lớn.

Cuộc chiến tranh lần thứ 2

Những người Carthaginians, dưới quyền chỉ huy của tướng Hasdrubal (cha của Hannibal), vì phải lo khoản tiền trả cho Rome nên muốn chiếm nam Tây Ban Nha, mảnh đất giàu có với những mỏ bạc. Cùng lúc đó, những người Roman đang xâm chiếm miền bắc TBN, nơi có những mỏ vàng. Những người Roman và Carthaginians đã thỏa thuận chia sẻ TBN với nhau. Nhưng năm 219 Tr.CN, 1 thành phố nằm trong vùng chiếm đóng của người Carthaginians yêu cầu Rome giúp đỡ chống lại người Carthaginians. Người Romans gửi quân đến giúp khiến Hannibal, lúc này thay cha lãnh đạo người Carthaginians, quyết định tấn công Rome.

Hannibal sử dụng 1 lực lượng lớn quân đội và nhiều voi, ngựa chiến, vựợt qua dãy Alps vào Italy. Hannibal đã nghĩ rằng khi ông ta vào Italy, tất cả các thành phố sẽ vui mừng giúp đỡ ông ta để được độc lập khỏi Rome. Nhưng 1 số thành phố thì cho rằng Rome đã đối xử tốt với họ, 1 số khác quá e sợ Rome, không thành phố nào muốn giúp đỡ Hannibal.

Khi nghe tin Hannibal đến, những người Romans giữ khoảng 1/2 đội quân khổng lồ của họ ở lại Italy để chống lại Hannibal và gửi 1/2 số quân còn lại dưới quyền của Scipio đến TBN để chiếm các mỏ bạc.

Chiến tranh kéo dài, Hannibal không thể hạ được Rome nhưng Rome cũng không thể đuổi Hannibal khỏi Italy. Hannibal gặp khó khăn là voi chiến bị chết nhưng được những người Hy Lạp gửi thuyền đến giúp.

Nhưng cuối cùng thì Scipio chiếm được TBN và đem quân sang châu Phi tấn công Carthage. Hội đồng lãnh đạo của những người Carthaginian hoảng sợ gọi Hannibal quay về. Cuộc đại chiến diễn ra ở Zama, gần Carthage vào năm 202 Tr.CN và người Carthaginians thua.

Tuy chiến thắng nhưng người Romans 1 lần nữa cũng không thể chiếm Carthage. Họ chỉ chiếm toàn bộ TBN và để 1 số binh lính ở Morocco và Algeria, đồng thời buộc người Carthaginians phải đình chiến.

Cuộc chiến lần thứ 3

Sau cuộc chiến lần thứ 2, Italy đã bị tàn phá. Quân đội của Hannibal đã dày xéo Italy trong suốt hơn 10 năm. Toàn bộ đàn ông đã ra trận và 1 phần lớn bị giết, 1 phần thì phải ở lại TBN hoặc châu Phi. Những người trở về nhà thì đất đai trang trại đã bị tàn phá, phải bán lại cho quý tộc để đủ tiền đóng thuế. 1 hậu quả khác là chiến tranh cũng làm nhiều dân nghèo các nơi đổ về Rome, không có việc làm và Viện nguyên lão phải cứu tế. Còn giới quý tộc thì được lợi to vì mua được nhiều nô lệ và đất đai. Những hậu quả trên đưa đến ý tưởng chinh phục Hy Lạp và Tây Á. Hy Lạp đã giúp người Carthginians là lý do chính đáng để quân đội Romans tấn công. Tấn công Hy Lạp sẽ giúp giải quyết đám dân nghèo nhờ xung họ vào lính và đẩy họ ra khỏi Rome. Và nếu quân đội Romans thắng, họ sẽ có nhiều tù binh để bán làm nô lệ.

Người Roman đã thắng mọi nơi họ đến, ở Hy Lạp và tiếp tục tiến về Tây Á.
Trong khi đó, các đồng minh của người Romans ở châu Phi thường xuyên quấy nhiễu Carthage trong khi theo điều ước người Carthaginian không được phép đem quân trả đũa. Người Carthaginians đã yêu cầu Rome giúp giải quyết nhưng Rome từ chối. Cuối cùng, năm 146 Tr.CN, dù có ít hy vọng chiến thắng nhưng những người Carthaginian vẫn quyết định dù thế nào cũng phải đánh lại các đồng minh của Rome. Khi nghe tin này Viện nguyên lão Rome rất tức giận, 1 thành viên của Viện nguyên lão, Cato ra lệnh phải phá hủy Carthage. Quân đội Romans hành quân đến Carthage, phá hủy thành phố và đuổi dân chúng đi.
Cũng trong năm đó, 146 Tr.CN, người Romans chiếm xong Hy Lạp và phá hủy thành phố Corinth

AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #10 on: April 14, 2011, 09:13 AM »
Thời kỳ các cuộc nội chiến (khoảng 146 - 30 Tr.CN)

Đến 146 TCN, những người Roman đã là quyền lực duy nhất còn lại trong vùng Địa Trung Hải và họ nắm giữ hầu như tất cả các vùng ven biển.

Nhưng Rome cũng có những trục trặc. Đầu tiên, ngay tại Rome, 2 anh em Cornelius Gracchú và Gaius Gracchus tìm cách lấy lại 1 số đất đai cho dân nghèo. Nhưng các nhà quý tộc giàu có trong Viện nguyên lão không đồng ý. Vào năm 133 và 123 Tr.CN, chính những thành viên Viện nguyên lão cùng với những kẻ ủng hộ đã truy đuổi và lần lượt giết chết 2 người này.

Thứ hai, những người châu Phi đã tấn công Carthage nay lại tiếp tục sinh sự. Rất nhiều thương nhân người Roman đang sinh sống tại châu Phi bị tàn sát hàng loạt. Vì vậy khoảng năm 100 Tr.CN quân đội Roman lại phải quay lại chiến đấu tại châu Phi. Nhưng lúc này rất khó khăn để có đủ binh lính cho mặt trận châu Phi, tướng Marius đã phải lấy những người nghèo khó thất nghiệp từ Rome và khuyến khích họ bằng chiến lợi phẩm. Nhờ đó Rome đã thắng.

Thứ ba, các thành phố Italy khác cảm thấy rằng Rome đã không đối xử đủ tốt với họ. Họ muốn tăng quyền hạn bầu cử. Vì vậy trong những năm 80 Tr.CN, đã có 1 cuộc chiến tranh với các thành phố Italy, viên tướng của mặt trận này là Sulla. Cuộc chiến tranh này gọi là Cuộc chiến tranh liên minh. Cuộc chiến kéo dài song cuối cùng Rome cũng thắng.

Nhưng rồi Marius và Sulla lại đánh lẫn nhau khi muốn trở thành tướng chỉ huy ở Tây Á. Marius thắng nhưng Sulla đem quân đội hành quân về Rome và đe dọa tấn công Rome nếu Viện nguyên lão không bổ nhiệm ông ta. Sulla thành công và đi Tây Á. Sau đó ông ta trở về với quyền lực lớn và trở thành nhà độc tài, lấn quyền của cả Viện nguyên lão.
Vì vậy sau khi Marius và Sulla chết, Viện nguyên lão Rome đã không còn đủ quyền lực để điều khiển đế chế Rome nữa. Dân Roman muốn tìm kiếm 1 viên tướng tiếp theo có đủ khả năng nắm quyền. Có 3 kẻ tranh nhau, đó là Pompey - bạn của Sulla, Crassus - 1 kẻ giàu có và Julius Ceasar - bạn của Marius. 3 người này thay nhau nắm quyền trong khoảng 10 năm. Trong thời gian này Ceasar chiếm xong xứ Gaul (nước Pháp ngày nay). Khi Crassus bị giết trong cuộc chiến với những người Parthians (những người đến Tây Á từ Seberia, vào khoảng 100 Tr.CN lập nên nhà nước Parthia ở khoảng Iran ngày nay) ở Tây Á thì Pompey và Caesar bắt đầu đánh nhau. Rất nhiều người chết và cuối cùng Caesar thắng trong trận Pharsalus. Pompey phải chạy sang Ai Cập và bị những người Ai Cập giết. Khi Caesar tiến vào Ai Cập, ông ta vui mừng vì Pompey đã bị giết nên đã đối xử rất hòa nhã với người Ai Cập, Caesar cũng gặp Cleopatra ở đây và mang Cleopatra về Rome. Nhưng khi Caesar tuyên bố trở thành Độc tài thâu tóm mọi quyền lực, ông ta đã bị các thành viên của Viện nguyên lão giết chết vào năm 44 Tr.CN.

1 nhóm quyền lực khác được thành lập gồm Marc Anthony - bạn của Caesar, Lepidus - 1 kẻ rất giàu có và Octavian - cháu họ và là con nuôi của Caesar. Mọi chuyện lại lặp lại. Lepidus bị gạt bỏ. Rồi Anthony cùng người tình Cleopatra gây chiến với Octavian. Nhưng năm 31 Tr.CN Octavian đánh bại Anthony và Cleopatra ở trận Actium, khiến 2 người này phải tự sát.

Đế chế Rome

Các triều đại dòng Julio-Claudians (30Tr.CN - 68 Sau CN)

Dân chúng Roman đã quá mệt mỏi vì chiến tranh và giết chóc và mọi người cũng quá sợ hãi Octavian. Bởi vậy khi Octavian nắm giữ mọi quyền hành như 1 hoàng đế, không ai dám ngăn cản ông ta. Octavian bắt mọi người gọi là Augustus (có nghĩa là thần thánh). Nhưng Octavian khôn ngoan hơn người chú Julius Caesar, ông ta không nhận mình là Độc tài (Dictator) mà nhận mình là Công dân thứ nhất (First Citizen), cũng không giải tán Viện nguyên lão, chỉ bắt Viện nguyên lão tuân theo những gì ông ta muốn. Octavian tự chỉ định mình là quan bảo dân, và vì vậy có quyền phủ quyết những gì Viện nguyên lão muốn làm trái ý ông ta. Dân chúng biết rằng Augustus thực sự đã thâu tóm mọi quyền hành nhưng miễn là ông ta giữ cho họ hòa bình và đừng tuyên bố trở thành độc tài là đủ. Augustus sống tới tận năm 13 sau CN. Khi ông ta chết, điều dân chúng nhớ về ông ta chỉ là giết chóc và máu.

Con rể của Augustus, Tiberius, lên làm Công dân thứ nhất. Tiberius thực sự không phải là kẻ cầm quyền giỏi, ông ta chủ yếu dùng thời gian vào tiêu khiển như bơi lội và tiệc tùng. Tiberius đẩy phần lớn công việc cần giải quyết cho các trợ lý. Tuy thế dân chúng nghĩ rằng thế vẫn tốt hơn là nội chiến.

Tiberius chết năm 37 sau CN và cháu họ của ông ta, Gaius, thường được gọi là Caligula, con trai của Germanicus, lên nắm quyền. Ban đầu Caligula không phải là 1 Hoàng đế (Emperor) tồi, nhưng sau đó ông ta bị tâm thần. Ông ta bắt đầu làm những việc điên rồ như muốn đưa con ngựa của mình vào Viện nguyên lão, muốn cưới chính em gái ông ta. Đến năm 41 sau CN, dân chúng quyết định phế truất ông ta và những lính bảo vệ đã giết ông ta.

Bác của Caligula, Claudius, lên nắm quyền. Claudius làm được nhiều điều hơn những gì người ta mong đợi. Dưới triều đại của Claudius, Rome đã chiếm được Anh (England) và chuyển thành 1 tỉnh của mình. Nhưng vợ của Claudius, Agrippina đã đầu độc giết chết chồng bằng nấm độc (theo sử gia Suetonius người Roman).

Năm 54 sau CN, con riêng vợ của Claudius, Nero, lên nắm quyền. Nero mới 16 tuổi và mẹ của Nero, Agrippina, mới thực sự là người nắm quyền hành chính trị, đến tận khi Nero 25-26 tuổi. Khi đó Nero muốn lấy lại quyền lực thực sự và đã giết mẹ. Nero nổi tiếng về vụ cháy lớn năm 64 sau CN ở Rome. Dân chúng buộc tội Nero cho thực hiện đám cháy để lấy cớ bắt bớ và thiêu sống những người Thiên chúa giáo. Nero cũng cho hành quyết thánh Peter và thánh Paul. Sau khi giết mẹ, Nero bị dân chúng phản đối. Viên toàn quyền (Governor) Tây Ban Nha, Galba, nổi loạn chống lại Nero và kéo quân về Rome. Khi biết mình sẽ thua, Nero tự sát. Nero là hoàng đế cuối cùng trong gia đình Julius Caesar và Augustus.

Năm của 4 vị hoàng đế

Khi kết thúc của gia đình Augustus, nhiều người đã nghĩ rằng Rome có thể trở lại chế độ cộng hòa thực sự. Nhưng họ không biết rằng những cuộc nội chiến đẫm máu mà họ đã muốn lãng quên lại trở lại. Ngay khi Nero chết, Galba tự lên làm Hoàng đế. Nhưng gần như ngay lập tức, tháng Giêng năm 69 sau CN, viên toàn quyền Bắc Đức (Upper Germany), Vitellius, cũng nổi loạn, và đem quân về Rome. Và gần như cùng thời điểm, Otho, 1 trợ thủ của Galba, lật đổ và giết chết Galba. Otho trở thành Hoàng đế trong 1 thời gian ngắn. Otho đánh nhau với Vitellius nhưng bị thua và bị giết. Vitellius lên làm Hoàng đế nhưng những gì được biết về ông ta chỉ là Vitellius sở thích ăn uống.
Cả 3 hoàng đế ngắn ngủi này đều từ phía tây đến, nhưng cùng lúc đó, lực lượng quân đội ở phía đông, ở Tây Á, bắt đầu muốn tranh giành quyền lực. Họ chọn vị tướng của mình, Vespasian, để làm Hoàng đế. Mùa thu năm 69 sau CN, 1 trong các chiến hữu của Vespasian đánh thắng Vitellius và giết Vitellius. 4 Hoàng đế trong vòng 1 năm, dân chúng quá khiếp sợ những cuộc nội chiến trong quá khứ, vì vậy họ vui mừng chấp nhận Vespasian lên làm Hoàng đế.

Các triều đại dòng Flavians

Vespasian cuối cùng cũng rời Tây Á đi thuyền về Rome mùa xuân năm 70 sau CN. Ông ta trở thành 1 Hoàng đế được yêu mến của Rome. Dù rằng Vespasian chú trọng vào quân đội hơn là bất cứ thứ gì khác, và ông ta tin dùng quân đội Tây Á nơi ông ta đã chỉ huy. Vespasian được lòng dân vì ông ta sống đơn giản, không tổ chức tiệc tùng lớn và không tiêu pha hoang phí như các Hoàng đế dòng Julio-Claudian. Đế quốc có rất nhiều tiền trong ngân khố. Vespasian làm Hoàng đế trong 10 năm, ông ta chết năm 79 sau CN.
Khi Vespasian chết, con trai lớn của ông ta, Titus lên nắm quyền. Suýt nữa 1 cuộc nội chiến đã xảy ra. Titus xung đột với Viện nguyên lão vì ông ta yêu 1 phụ nữ Do thái tên là Berenice, 1 công chúa ở Tây Á, chứ không phải 1 phụ nữ Roman. Nhưng Titus cũng đã đàn áp 1 cuộc nổi dậy của dân Do thái ở Israel, phá hủy đền thờ lớn của người Do thái ở Jerusalem (Titus đã cho xây 1 Khải hoàn môn lớn bằng đá để kỷ niệm chiến thắng này). Titus chết năm 81 sau CN, khi còn rất trẻ, chỉ sau gần 3 năm cầm quyền.
Sau đó em trai của Titus là Domitian làm Hoàng đế. Domitian là 1 kẻ khác đời, luôn cho rằng cha mình Vespasian yêu mến Titus hơn nên rất tức giận. Domitian đã từng tổ chức nổi loạn chống lại Titus khi Titus còn làm Hoàng đế. Khi lên nắm quyền, Domitian tin rằng mọi người xung quanh muốn giết mình, bởi vậy Domitian đã giết nhiều thành viên Viện nguyên lão và dân thường vì nghi ngờ họ. Domitian cũng khủng bố những người Thiên chúa giáo. Domitian bắt mọi người gọi mình là Dominus et Deus (thánh và thần). Cuối cùng dân chúng không thể chịu đựng được sự cai trị của Domitian và ông ta bị ám sát vào năm 96 sau CN. Domitian cũng gần giống như bạo chúa Hippias của Hy Lạp.

Thời kỳ thịnh trị của 5 vị Hoàng đế

Khi Domitian bị ám sát, dân chúng rất lo sợ về những gì xảy ra sau khi Caesar bị ám sát và Nero tự sát, những cuộc nội chiến, sẽ tái diễn. Vì vậy Viện nguyên lão đã nhóm họp nhanh chóng và chọn 1 thành viên của Viện nguyên lão lên làm Hoàng đế, đó là Nerva. Nerva được chọn vì đã già và không có con trai để có thể kế thừa vương quyền. Ông ta không có nhiều thời gian để làm Hoàng đế, vì ông ta chết ngay năm 98, chỉ sau 2 năm nắm quyền. Nhưng Nerva đã khởi đầu 1 hệ thống bầu chọn Hoàng đế mới, 1 hệ thống làm việc tốt hơn sự kế thừa theo dòng tộc, đó là ông ta chọn 1 người có khả năng và nhận làm con nuôi. Người được Nevra thu nhận là Trajan.

Trajan đúng là đã cai trị rất tốt. Trajan mang quân đến chiếm được Dacia (Rumania ngày nay). Dacia có rất nhiều mỏ vàng và Rome trở nên rất giàu có nhờ vàng ở đây. Trajan còn xâm chiếm nhiều đất đai của người Parthians (dân từ Seberia, đã đến chiếm vùng Iran ngày nay), khai thông con đường tới Babylon (lúc này Alexander đại đế đã chết). Trajan đặt Thiên chúa giáo ra khỏi vòng pháp luật. Trajan cũng không có con trai, ông ta nhận cháu mình, Hadrian, làm con nuôi. Trajan chết năm 117.

Hadrian lên làm Hoàng đế. Hadrian không được lòng dân như Trajan vì ngay khi Trajan chết Hadrian quyết định rút quân khỏi những vùng đất Trajan đã chiếm được ở Tây Á, quân đội miễn cưỡng phải rút khỏi những nơi họ đã phải chiến đấu để dành được. Tuy nhiên Hadrian vẫn giữ được hòa bình trong lãnh thổ của đế quốc. Giống như Nerva và Trajan, Hadrian không có con và phải nhận con nuôi.

Khi Hadrian chết năm 134, con nuôi của ông ta, Antoninus lên làm Hoàng đế. Antoninus thường được gọi là Antonius Pius (1 tên thánh) vì ông ta quan tâm đến tôn giáo. Giống như Hadrian, Antonius không phát động bất kỳ cuộc chiến tranh nào, đế quốc Rome sống trong hòa bình và dân chúng được đối xử tốt. Antonius cũng lại nhận con nuôi, Marcus Aurelius.

Marcus là Hoàng đế cuối cùng của thời kỳ thịnh trị này, lên ngôi năm 161 sau khi Antonius chết. Giống như Seneca (nhà văn lớn giai đoạn các triều đại dòng Julius-Claudians) và nhiều người Romans khác, Marcus tin vào triết học Stoic (do Zeno khởi xướng, thời cổ Hy Lạp). 1 trong những điều đầu tiên Marcus làm là nhất quyết muốn chia sẻ quyền lực với em nuôi Lucius Verus. Lucius không thực sự quan tâm đến việc cai trị, nhưng theo quan điểm của triết học Stoic, Marcus muốn cho em nuôi có đủ quyền lực để Lucius sẽ không tìm cách giết mình để tranh đoạt quyền lực. Không giống các triều đại trước trong thời kỳ này, thời kỳ trị vì của Marcus không yên ổn. Ngay khi Antonius chết, những người Parthians đã tấn công phần lãnh thổ phía đông của đế chế, họ hy vọng là Rome có thể sụp đổ sau khi Antonius chết. Marcus đã phải phái Lucius và quân đội từ phần phía tây của đế quốc đi đánh dẹp, quân Roman thắng trận. Sau cuộc chiến này, người Roman bị nhiễm 1 bệnh dịch khủng khiếp từ những người Parthians, ngày nay không thể biết chắc là bệnh gì, có thể là đậu mùa. Binh lính từ phía đông trở về đã mang theo bệnh dịch lan tràn khắp đế quốc, rất nhiều người chết vì dịch bệnh. Ở phía bắc, những người German sống trong vùng ngày nay là Đức, Áo và Thụy Sĩ thấy rằng phần lớn lính Roman đã rời đi và đang có bệnh dịch lan tràn. Họ cho rằng đã đến lúc thích hợp để tấn công vào đế quốc. Trong suốt thời gian trị vì còn lại, Marcus phải lo đối phó với các bộ tộc German này. Khi sắp đi đến chiến thắng cuối cùng thì Marcus chết, vào năm 180 khi 59 tuổi. Lúc này đế quốc rất suy sụp vì bệnh dịch và dồn sức cho chiến tranh.

Các triều đại dòng Severans

Marcus Aurelius, không giống những Hoàng đế trước trong thời kỳ thịnh trị, có 1 con trai là Commodus. Khi Marus chết, Commodus lên nắm quyền. Commodus, giống như các Hoàng đế sau của dòng Julio-Claudians và Domitian của dòng Flavians, lớn lên ở cung đình, ông ta thích tiệc tùng hơn là chiến trận và làm việc điều hành đế chế. Nhưng nói chung ban đầu thì ông ta cũng lãnh đạo khá tốt, lập lại được hòa bình với người Germans. Nhưng khi Commodus quay về Rome, chị ông ta, Lucilla, được sự giúp đỡ của 1 số thành viên Viện nguyên lão tìm cách giết ông ta. Tuy kế hoạch này thất bại nhưng làm Commodus trở nên rất đa nghi, lại giống như Domitian và hàng loạt thành viên Viện nguyên lão cùng với dân thường đã bị giết. Tuy nhiên trong 1 kế hoạch giết 1 số bạn bè gần gũi của mình, Commodus bị chính những người này giết chết vào năm 192. Những người đã giết Commodus không biết lập ai lên làm Hoàng đế. 1 số nhân vật quyền lực hơn ở Rome đứng lên nhưng rốt cục họ lại nhanh chóng bị giết, có vẻ như nội chiến là khó tránh khỏi.

Năm 193, 1 người châu Phi tên là Septimius Severus, viên tướng chỉ huy quân đội ở Thượng Pannonia (theo tôi biết thì Pannonia là vùng Hungaria và bắc Slovenia ngày nay, nằm ở bờ phải sông Danube, nên có lẽ Thượng Pannonia là vùng tây Hungaria và 1 phần tây bắc Slovenia) được sự ủng hộ của quân đội lên làm Hoàng đế. Severus mất vài năm để đánh bại các kẻ cạnh tranh còn lại, trong đó chủ yếu là 1 người châu Phi khác, Albinus, viên toàn quyền ở Anh (Britain). Năm 197, những người Parthians nhân cuộc nội chiến lại tấn công vào đế quốc. Nhưng Severus nhanh chóng đem quân đến dẹp và dành chiến thắng quyết định. Sau khi đi thị sát vòng quanh đế quốc, Severus ở lại Rome 4 năm, trước khi đến Anh (England) để thực hiện 1 cuộc xâm lược mở rộng ở đây. Severus chết ở Anh (ở York) vào tháng 2 năm 211. Ông ta để lại đế quốc cho cả 2 người con trai, Carcalla và Geta với mong muốn cả 2 sẽ giúp đỡ nhau chỉ huy quân đội và coi giữ đế quốc.

Nhưng ngay từ đầu Carcalla và Geta đã không thể hòa hợp. Đến tháng 2 năm 212, Caracalla giết Geta và thậm chí phá bỏ tất cả các đài tưởng niệm ghi tên và gắn ảnh Geta trên khắp đế quốc (theo thông lệ những người đứng đầu đế quốc được lưu danh tại các đài tưởng niệm). Suốt thời gian trị vì của mình Caracalla gây chiến khắp nơi. Ông ta đánh người German ở phía bắc, chiến thắng. Sau đó Caracalla tấn công những người Parthians nhưng bị những người bảo vệ giam cầm đến chết vào giữa cuộc chiến với người Parthians, năm 217. Chỉ huy những lính bảo vệ này, Macrinus, tự tuyên bố làm Hoàng đế.

Tuy nhiên các phụ nữ thân thuộc trong gia đình Severan tìm cách chống lại. Vợ của Severus, Julia Domna, thành viên của 1 gia đình quyền lực lâu đời ở Tây Á (cụ thể là Syria), đã tuyệt thực đến chết để phản đối Macrinus. Chị gái của Domna, Julia Maesa (cách đặt tên của dân vùng Syria này có lẽ hơi khác biệt), có 1 người cháu trai gọi bằng bà là Elagabalus. Maesa giúp tiền bạc để Elagabalus tổ chức quân đội và Elagabalus đã đánh bại Macrinus. Elagabalus lên làm Hoàng đế nhưng quyền hành thực sự trong tay của Maesa. Maesa buộc Elagabalus lập 1 người cháu khác của mình là Alexander làm người thừa kế.

Sau đó mẹ của Alexander là Julia Mamaea (cũng là 1 người trong gia đình Julia) lập kế hoạch giết chết Elagabalus và mẹ Elagabalus vào năm 222. Sau đó Julia Maesa và Julia Mamaea cùng điều hành đế quốc. Nhưng có 1 vấn đề, họ là đàn bà nên không thể chỉ huy quân đội trong khi Alexander vẫn còn nhỏ. Khi quân Sassanid (1 quyền lực mới ở Tây Á bắt đầu khoảng năm 224 đến 650, trên vùng của Iran ngày nay) tấn công vào, 2 người đàn bà này không thể chỉ huy quân đội bảo vệ tốt đế quốc. Ngay lập tức, những người German lợi dụng tấn công ở phía bắc. Julia Maesa chết, Julia Mamaea càng không thể kiểm soát được tình hình. Quân đội thấy được vấn đề lập tức giết cả Mamaea và Alexander.
AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #11 on: April 14, 2011, 09:22 AM »
Cuộc khủng hoảng thế kỷ thứ 3

Đế chế Rome trải qua 1 thời kỳ khó khăn trong thế kỷ thứ 3. Các nhà sử học còn bất đồng về các lý do, nhưng 1 trong các lý do đó chắc chắn là cuộc tấn công của người Sassanids từ phía đông và của người Germans từ phía bắc.

Nói về người Sassanids họ là 1 nhóm người Persians, từ khoảng năm 210 đã đánh bại được người Parthians và chiếm quyền kiểm soát vương quốc của người Parthians, họ muốn khôi phục đất đai của đế quốc Persia trước kia bao gồm đến tận Ixrael, Syria, Li băng và Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời cả Ai Cập. Sassanid thường được xếp vào lịch sử của Iran ngày nay. Còn người German là những người Ấn Âu, trước kia ở vùng biển Đen và Caspian, từ khoảng năm 2000 Tr.CN bắt đầu di cư nhiều đợt vào miền bắc châu Âu như vùng bán đảo Scandinavia (nước Nauy, Thụy Điển và Denmark) và vùng Đức, dần dần là Áo, Thụy Sĩ ngày nay.

Có 1 thực tế là các hoàng đế Rome không thể chỉ huy cả 2 bộ phận quân đội cùng 1 lúc, cần thêm 1 viên tướng nữa chỉ huy mặt trận thứ 2, khi đó vấn đề quân đội ở đâu cũng luôn muốn lập viên tướng của mình làm hoàng đế sẽ dẫn đến xung đột nội bộ và kết quả là 2 nửa quân đội của Rome chủ yếu là đánh lẫn nhau hơn là đánh người Sassanids và người Germans.

Ngoài ra để phục vụ cho chiến tranh, dân chúng trong đế quốc cũng sẽ phải è cổ ra đóng thuế, vì vậy các cuộc nổi loạn nhỏ xảy ra khá thường xuyên cũng khiến quân đội phải can thiệp. 1 cuộc nổi dậy lớn và kéo dài khá lâu là ở Palmyra, 1 thành phố thương mại gần Arabia, vua vùng này Odoenathus trước đây vốn thuần phục Rome nhưng tình cảnh bị chèn ép đã khiến ông ta nổi dậy. Khi ông ta chết, vợ ông ta là Zenobia tiếp tục lên nắm quyền nhiếp chính cho con trai nhỏ, nhưng cuối cùng thì quân đội Roman cũng chiếm lại được Palmyra và bắt Zenobia làm tù binh về Rome.

Trong giai đoạn này có rất nhiều Hoàng đế vì lần lượt bị giết trong chiến trận hoặc vì binh lính nổi loạn, gần như không có ai cầm quyền được quá 5 năm, có 1 Hoàng đế tương đối nổi bật trên chiến trường là Numerian.

Triều đại của dòng Constantine

Khoảng năm 280 thì những người Sassanids dần ngừng tấn công dồn dập vào đế quốc vì bản thân họ cũng bị tấn công từ phía bắc và cũng có những cuộc nội chiến. Nhờ vậy quân đội Roman có dịp rảnh tay để đẩy lùi người Germans và dẹp yên các cuộc nổi dậy bên trong. Đặc biệt những người Roman có được 1 Hoàng đế trẻ tuổi, nhiệt huyết và tài năng, Diocletian, người lên nắm quyền từ năm 284. Diocletian cũng xuất thân là 1 viên tướng, ông ta đánh lui cả người Sassanids và người Germans, dẹp tan tất cả các cuộc nổi loạn. Diocletian cũng giải quyết cuộc xung đột giữa 2 bộ phận quân đội đông và tây bằng cách lập nên 1 hệ thống gồm 2 Hoàng đế cùng lúc, và 2 phụ tá, khi 1 Hoàng đế chết, 1 phụ tá của ông ta sẽ lên thay và chỉ định 1 phụ tá mới, hệ thống này gọi là Bộ tứ (Tetrarchy - quyền lực 4 người).

Hệ thống Bộ tứ hoạt động tốt trong khoảng 20 năm thì bị phá vỡ. Đó là vì vào năm 306, 1 Hoàng đế Constantius chết, đáng lý người lên thay là phụ tá của Constantius, Severus, nhưng con trai của Constantius là Constantine lại được sự ủng hộ từ phía quân đội của Constantius lên làm Hoàng đế. 1 cuộc nối chiến lớn đã xảy ra vì Severus được sự ủng hộ của vị Hoàng đế còn lại, Maximian. Năm 312, 1 trận chiến lớn giữa Constantine và Maxentius con trai của Maximian đã xảy ra ngay tại Rome, Constantine ở bên ngoài tường thành và Maxentius ở bên trong Rome. Quân của Constantine ít hơn nhưng đã chiến thắng. Về chiến thắng này có 1 truyền thuyết là Constantine đã mơ thấy hình ảnh cây thập tự của Cơ đốc giáo xuất hiện trên bầu trời kèm theo lời sấm truyền "dưới biểu tượng này nhà ngươi sẽ chiến thắng", và ông ta đã ra lệnh cho binh lý vẽ lên trên áo giáp hình thập tự trước khi bước vào trận chiến, bởi vậy Constantine rất ấn tượng với quyền lực của chúa Jesu và quyết định trở thành 1 người Cơ đốc giáo.

Năm 324 Constantine chính thức lên làm Hoàng đế duy nhất. Cùng năm đó ông ta thành lập 1 thành phố mới ở phía đông, thành phố Constantinople (có nghĩa là thành phố của Constantine, nay là thủ đô Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ) để phản ánh sự lớn mạnh của phần phía đông của đế quốc đồng thời là điểm giữa 2 chiến trường phía bắc và phía đông, thuận tiện cho sự cai quản của 1 Hoàng đế duy nhất.

Constantine chết năm 337. Sau đó 3 người con còn sống sót của Constantine chia sẻ đế quốc và lập tức đánh lẫn nhau, cộng thêm cuộc nổi loạn ở xứ Gaul khiến tình hình đế quốc lại rối ren. Đến năm 350, Constantius mới giết được 2 người anh em kia và lên làm Hoàng đế, đó là Constantius II, giống như cha, Constantius II là 1 người Cơ đốc giáo (Christian).

Nhưng giờ cũng là lúc người Sassanids kết thúc cuộc nội chiến và lại bắt đầu tấn công vào đế quốc. Constantius bận đánh nhau với quân German và phải chỉ định cháu là Gallus chỉ huy mặt trận phía đông tuy nhiên Gallus vừa bất tài vừa tàn bạo nên Constantius phải giết Gallus và đưa Julian, em trai của Gallus lên thay nhưng đổi chỗ, Julian đánh người German và Constantius đánh quân Sassanid. Julian tỏ ra là 1 viên tướng có tài, đánh lui được quân German nhiều trận và nhận được sự ủng hộ của quân đội lên làm Hoàng đế. Constantius kéo quân về đánh Julian nhưng chết vì đau tim trên đường hành quân kết quả là Julian trở thành Hoàng đế năm 361. Nhưng Julian sau khi lên lại tuyên bố từ bỏ Cơ đốc giáo và muốn khôi phục lại tôn giáo cũ của người Roman (gần gần với tôn giáo của người Hy Lạp nhưng có 1 số khác biệt chẳng hạn thay cho Zeus là Jupiter, rồi coi bản thân Hoàng đế cũng là thần...). Điều này làm Julian mất sự ủng hộ của quân đội và Julian bị quân lính của mình giết trong cuộc chiến với người Sassanid vào năm 363.

Các triều đại dòng Theodosius

Trong năm đó, sau khi Julian bị giết, các tướng lĩnh trong bộ phận quân đội phía đông chọn 1 người trong số họ, 1 người Cơ đốc giáo tên là Jovian lên. Jovian đánh được vào vương quốc Sassanids rồi rút quân. Nhưng Jovian chết ngay năm sau, năm 364. Người thay thế Jovian là 1 viên tướng phía đông khác là Valentinian, 1 người Thiên chúa giáo (Catholic). Valentinian muốn quay về để kiểm soát phần phía tây của đế quốc vì vậy ông ta để lại phần phía đông cho em trai Valens, 1 người Arian. Thủ đô của phần lãnh thổ do Valentinian kiểm soát đặt tại Milan, trong khi Valens đóng tại Constantinople.

Ở đây dừng lại giải thích 1 chút về Cơ đốc giáo (Christianity) và các nhánh của nó. Những người Arians theo quan điểm phân biệt Jesus với đức chúa trời God, chúa trời sinh ra trước, ngay sau đó sinh ra Jesus của thày tu Arius - đối lập với những người Athanasians, cho rằng Jesus cũng chính là chúa trời của giáo sĩ Athanasius. Những người Arians và người Athanasians đã đánh nhau để tranh thắng thua, đến khoảng năm 400 thì người Athanasians thắng thế và toàn bộ người Romans chuyển đổi hết thành Athanasians. Nhưng người Germans là Arians, tuy vậy dần dần họ cũng bị chuyển đổi, những người Arians cuối cùng là những người Visigoths chuyển thành người Thiên chúa giáo Catholic cùng với vua Reccared của họ vào năm 590). Thiên chúa giáo (Catholicism) là 1 nhánh tiếp theo của Cơ đốc giáo, hay chính xác hơn là bước phát triển tiếp theo của quan điểm Athanasians, theo quan điểm chỉ tin vào kinh thánh, theo chiều hướng tôn sùng Jesus hơn nữa, phân biệt với những người Christian thông thường. Trước khi phát sinh chia rẽ giữa những người Arians và những người Athanasians thì Cơ đốc giáo còn bị chia rẽ thành những người ôn hòa (moderates) và những người tử đạo (donatists). Những người ôn hòa tuân theo lời kinh thánh răn, nên trước đây khi Cơ đốc giáo bị cuộc đàn áp đẫm máu của Diocletian, họ chỉ tìm cách chạy trốn. Trong khi những người tử đạo không bỏ trốn mà đứng lên chống lại, những người tử đạo chủ yếu ở châu Phi. Sau này khi Constantine lên nắm quyền và trở thành 1 người Cơ đốc giáo, những người ôn hòa và những người tử đạo đưa ra đòi Constantine phân xử xem ai đúng ai sai. Lúc đầu Constantine muốn hòa giải 2 bên nhưng sau đó Constantine nhận ra rằng tư tưởng của những người tử đạo thực sự nguy hiểm nên ủng hộ những người ôn hòa và đánh những người tử đạo. Tất nhiên phe ôn hòa thắng, tuy nhiên phe tử đạo còn tiếp tục chiến đấu cả khi người Vandals đến châu Phi, hay khi người Romans tái chiếm châu Phi, thậm chí cả khi người Ả rập xâm chiếm Bắc Phi khoảng năm 670.

Con trai nhỏ của Valens, Gratian, được đính hôn với con gái của Constantius II, Constantia, rồi sau đó được lập lên Hoàng đế vào năm 367 khi mới 8 tuổi. Còn Valentinian thì lập con trai nhỏ của mình lên làm Valentinian II. Thời gian này các cuộc chiến với người German và Sassanid vẫn tiếp diễn dai dẳng cùng với cuộc chống trả của những người tử đạo ở châu Phi đã nói ở trên. Năm 378, tại thành phố Adrianople ở Balkans, Valens đã thua 1 trận lớn trước người Visigoths và bị giết. Những người Visigoths tìm được con đường để tràn vào bên trong đế quốc. Theodosius, 1 viên tướng Thiên chúa giáo trẻ tuổi, là con của 1 viên tướng ở mặt trận tại đây, được chọn để thay thế Valens. Theodosius lấy Galla, con gái của Valentinian, và cùng cai trị đế chế với Gratian và Valentinian II (lúc này đều còn nhỏ). Theodosius dẹp yên được người Visigoths và người Sassanids nhưng chủ yếu là thông qua thỏa hiệp. Năm 383, Maximus, 1 viên tướng ở Constantinople nổi loạn, giết chết Gratian và năm 388 tấn công Valentinian II nhưng bị Theodosius giết. Năm 391, dưới ảnh hưởng của giáo sĩ thành Milan tên là Ambrose (sau là thánh), Theodosius quyết định cấm tất cả các lễ nghi tà giáo ngoại đạo (ngoài Cơ đốc giáo), thậm chí ở ngay nhà riêng, chỉ có Cơ đốc giáo và 1 nhánh mở rộng là Do thái giáo được phép tồn tại trong đế quốc. Trước lệnh này, 1 viên tướng không phải người Roman, tên là Arbogast nổi loạn, giết chết Valentinian II và đưa 1 người bạn của ông ta, 1 người Roman tên là Eugenius, lên ngai vàng nhưng Theodosius đã đánh bại và giết họ. Theodosius chết năm 395, hoàn thành sứ mạng biến toàn bộ đế quốc theo Cơ đốc giáo.

Sự sụp đổ của Rome

Khi Theodosius chết, ông ta để lại đế quốc cho 2 con trai, Honorius và Arcadius. Honorius cai quản phần phía tây và Arcadius lấy phần phía đông. Nhưng 2 người này lớn lên tại triều đình, không giỏi và không quan tâm đến việc cai trị, hầu như mọi công việc do các cố vấn giải quyết. Giúp đỡ cho Honorius là 1 người Vandal tên là Stilicho, người đã gia nhập quân đội Roman và từ lính leo lên đến cương vị tướng.

Không bao lâu sau những người Germans và người Goths nhận thấy sự yếu kém của các Hoàng đế mới và tấn công mạnh. Các tướng lĩnh Roman cũng nhận ra sự yếu kém đó và nổi loạn. Đầu tiên Constantine III, 1 viên tướng ở Anh, tự tuyên bố lập mình làm Hoàng đế ở York năm 405. Constantine III đem quân vượt eo biển Anh đổ bộ vào Pháp, thu phục Pháp và binh lính ở đây rồi tiến về Rome. Khi đó biên giới của đế quốc gần như bỏ ngỏ. Tháng giêng năm 409, các nhóm người German gồm người Alans, Vandals và Sueves vượt sông Rhine lúc này đang đóng băng và tiến vào Pháp 1 cách dễ dàng. Không còn binh lính Roman ở đây, và đội quân này tha hồ cướp phá, không những vậy họ còn mang theo cả gia đình và ở lại chiếm đóng tại đây. Còn Constantine III trên đường tiến về Rome đã cắt 1 bộ phận đánh chiếm Tây Ban Nha do Gerontius chỉ huy, nhưng chính Gerontius lại tự lập mình làm Hoàng đế. Để có được 1 đội quân đủ mạnh Gerontius thỏa hiệp với người Alans, Vandals và Sueves, cho phép họ vào TBN khi họ hứa giúp ông ta, thế là những người German này ở lại cả TBN. Chính quyền trung ương Roman điều quân chặn đánh và giết chết được cả Constantine III rồi cả Gerontius. Sau đó quân đội Roman từ Anh, Pháp, TBN được tập trung về Italy để đối phó với người Visigoths, những nơi này trở thành gần như hoàn toàn thuộc quyền cai quản của những người German mới đến. Quay lại về những người Visigoths, sau chiến thắng năm 378 tại Adrianople, sau đó Theodosius đã thỏa hiệp cho phép họ ở lại bên trong đế quốc, nhưng họ không được đối xử tốt, không được phép xây nhà ở tử tế và rất khó kiếm sống. Khi 1 vua mới của người Visigoths là Alaric lên, Alaric muốn gây chiến, ông ta đòi vua Roman ở phía tây là Honorius phải trả cho họ 1 lượng vàng, khi Honorius không chấp thuận, quân Visigoths tiến về Rome. Dù chính quyền trung ương Roman đã tập trung khá đông quân về Rome nhưng những người Visigoths năm 410 vẫn chiếm được Rome, cướp phá và tàn sát. Người Roman bị tác động mạnh, lần đầu tiên thánh địa Rome của họ bị như vậy, họ cho rằng đó là do đức chúa trời đã giận dữ. Quân Visigoths sau khi cướp phá Rome thì tiến xuống miền nam Italy, định vượt biển sang châu Phi nhưng Alaric chết và bão to làm họ hoảng sợ, người Visigoth quay lên và chuyển hướng sang miền nam Pháp rồi định cư ở đây. Trong khi người Burgundians đã chiếm miền đông Pháp, còn người Vandals và Sueves đã ở TBN (người Alans thì gần như bị xóa xổ). Năm 429 người Vandals vượt eo biển Gibraltar tiến sang chiếm châu Phi mà hầu như không gặp sự kháng cự nào đáng kể. Chỉ còn người Sueves ở lại TBN nhưng rồi người Visigoths bắt đầu tràn xuống chiếm dần từng phần của TBN. Những người Picts và 1 số nhóm German khác đến sau bắt đầu xâm chiếm Anh, dân Anh kêu gọi sự giúp đỡ của Rome nhưng lúc này các Hoàng đế Roman đã hoàn toàn suy yếu. Năm 476 Hoàng đế Roman cuối cùng ở phía tây, Romulus Augustulus bị hạ bệ, bởi Odoacer, 1 người Hun. Tây đế quốc hoàn toàn sụp đổ.
AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #12 on: April 14, 2011, 09:24 AM »
Italia khi Tây đế quốc sụp đổ

Odoacer lên nắm quyền trên chủ yếu là Italy. Zeno, Hoàng đế Roman ở phía đông, nhận được thông báo của Odoacer dù rất tức giận và muốn chiếm lại Italy nhưng lúc này phần lớn quân đội phía đông và bản thân ông ta đang phải phòng thủ Constantinople trước sự tấn công của người Sassanids. Vì vậy Zeno cho những người Ostrogoths theo Arians, dưới sự chỉ huy của vua của họ là Theodoric đi chiếm lại Italy từ tay Odoacer. Đội quân Ostrogoths này nhanh chóng giết được Odoacer và trên thực tế Theodoric trở thành vua Italy dù trên danh nghĩa, ông ta vẫn thuần phục Zeno, là đại diện của Zeno ở Italy. Theodoric nắm quyền khá lâu và cai trị khá tốt. Ông ta có lúc đã nắm được cả Tây Ban Nha với tư cách nhiếp chính cho vua ở đó còn nhỏ tuổi. Nhưng sau khi Theodoric chết, những người kế thừa bất tài và Justinian, Hoàng đế mới ở Đông đế quốc quyết đinh lấy lại Italy. Đầu tiền ông ta cho tướng Belisarius chiếm lại châu Phi từ tay người Vandals, sau đó Belisarius được lệnh mang quân đánh Italy nhưng người Ostrogoths chống trả rất dữ dội. Sau khoảng 20 năm chiến tranh, quân đội Đông đế quốc chiến thắng nhưng Italy bị tàn phá nặng nề.

Năm 568, những người Lombard bắt đầu tấn công Italy, muốn chiếm Italy từ tay quân đội Đông đế quốc, tuy nhiên họ chỉ chiếm được miền bắc rồi bị chặn lại. Những người Lombard làm chủ bắc Italy khoảng 200 năm đến khi bị vua Charlemagne chinh phục và sát nhập vào đế quốc Roman thần thánh của Charlemagne vào năm 774. Phần phía nam thì vẫn thuộc quyền kiểm soát của Đông đế quốc nhưng dần Giáo hoàng mới, dưới sự bảo trợ của vua Pháp mới thực sự là người nắm quyền. Đến năm 830 thì quân Ả rập chiếm Sicily và phần nam Italy, Giáo hoàng chỉ giữ được phần miền trung, và Italy bị chia 3. Nhưng thời gian này thuộc vào thời kỳ trung cổ, về Rome cổ đại chỉ dừng khi Đông đế quốc mất hẳn kiềm quyển soát Italy.

Thời kỳ đầu trung cổ

Năm 568, người Lombards xâm chiếm Italia từ tay Đông đế quốc của người La Mã nhưng bị quân đội La Mã đánh bại. Tuy vậy họ vẫn chiếm cứ miền bắc Italia và định cư ở đây. Người đứng đầu của họ được gọi là duces (thủ lĩnh), chính là nguồn gốc của từ tiếng Anh Duke. Người Lombards cai trị miền bắc Italia khoảng 200 năm trước khi bị xâm chiếm bởi vua Charlemagne người Frankish (người Pháp ngày nay) vào năm 774.

Người Lombards cũng là một nhóm người Germans, họ vượt sông Danuyp vào lãnh thổ đế quốc Tây La Mã trước khi được Narses, một tướng lĩnh Đông La Mã mời vào giúp ông ta trong cuộc tranh giành nội bộ nhằm cai trị Italia sau khi hoàng đế Justinian chết, Narses đã “cõng rắn cắn gà nhà” và người Lombards khi chiếm cứ miền bắc Italia đã phá hủy phần lớn các công trình của người Roma ở đây.

Nhà thờ (đặc biệt là Giám mục Roma, một cách gọi khác của Giáo hoàng) đã đóng một vai trò chính trị rất quan trọng từ thời Hoàng đế Constantine, người đã đưa Thiên chúa giáo lên làm quốc giáo và cố gắng đưa nó vào việc cai trị đế chế.

Trong những sự thay đổi hỗn loạn khi đế quốc sụp đổ, nhà thờ trở thành nơi vững chắc nhất và chỗ duy nhất người ta có thể học hành. Thậm chí những kẻ man rợ phương bắc cũng phải dựa vào các giáo sĩ để tổ chức những cuộc xâm lược của mình. Xa hơn nữa, các dòng tu Thiên chúa giáo, như dòng Benedictines có vai trò cả trong kinh tế và bảo tồn các giá trị văn hóa.

Sau cuộc xâm lược của người Lombard, các giáo hoàng vẫn có danh nghĩa là một người của Đông Đế quốc, nhưng thường nhận được rất ít sự giúp đỡ từ Constantinople (thủ đô Đông đế quốc). Các giáo hoàng đã phải tự xây dựng lực lượng một cách độc lập để bù đắp sự thiếu hụt quyền lực này.

Vào cuối thế kỷ thứ 8, các giáo hoàng đã thực sự thấy được sự cần thiết của độc lập, và họ tìm thấy một cách, đó là liên minh với triều vua Carolingian của người Franks, các vua Carolingians thì cần một sự công nhận cho sự soán ngôi của họ đối với các vua Merovingian cũ. Và kết quả là năm 774, người Franks xâm lược Italia và đánh bại người Lombards, vua của họ là Charlemagne được Giáo hoàng công nhận là vua chính thức của Franks.

Sau đó, vào ngày 25 tháng 12 năm 800, Charlemagne lên ngôi Hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh (Holy Roman Empire) với sự ủng hộ của Giáo hoàng. Đế quốc mới, mặc dù không bao giờ được đế quốc Byzantine (hậu duệ của Đông đế quốc) công nhận, ngay lập tức trao quyền kiểm soát miền trung Italia cho Giáo hoàng, tạo nên các vùng đất của Giáo hoàng (Papal States).

Trong thời gian vài thế kỷ này, những vùng ven biển miền nam Italia vẫn do Đông Đế quốc La Mã và triều đại sau của họ là đế quốc Byzantine kiểm soát.

Các thành bang tự trị và thời kỳ Phục hưng

Một thế kỷ sau khi Charlemagne tiến vào Italia, bán đảo này chứng kiến các cuộc chiến dai dẳng giữa người Franks và đế quốc Byzantine. Bên cạnh đó, người Saracens cũng tấn công Byzantine ở cả Italia và các miền Tây Á, chiếm được Sicilia và một số vùng ven biển miền nam.

Sau khi Charlemagne mất, con trai ông là Louis thừa kế đế quốc và truyền lại cho ba con trai. Ba người này chia nhau đế quốc thành 3 phần: phía tây (phần lớn nước Pháp ngày nay), phía đông (phần nước Đức ngày nay) và phần ở giữa. Tuy nhiên họ đã sớm tranh giành nhau, người giữ phần ở giữa bị giết và hai người kia đánh nhau trong một thời gian dài đến tận thế hệ con – cháu. Suốt một thế kỷ không ai thành công trong việc thống nhất đế quốc và cái tên Đế quốc La Mã Thần thánh (Holy Roman Empire) bị lãng quên. Lúc này Italia lại thuộc về đế quốc Byzantine (trong triều đại của người Macedonia).

Giữa thế kỷ thứ 10, một vị vua của người German là Otto I (thường gọi là Otto Đại Đế) đã xây dựng được quyền lực một cách khôn ngoan. Ông đặt anh và con trai mình ở những vị trí thích hợp để họ có thể hỗ trợ cho ông. Đồng thời Otto cũng sử dụng nhà thờ để gia tăng quyền lực, năm 962 ông đã khiến Giáo hoàng trao lại danh hiệu Đế quốc La Mã Thần thánh cho mình, thống nhất miền bắc và miền trung Italia với các vùng đất German.

Tuy vậy, từ thế kỷ 11 Đế quốc La Mã Thần thánh ngày càng yếu dần, mối quan hệ giữa các vị vua của đế quốc với Giáo hoàng cũng thường xuyên có xung đột. Khoảng trống quyền lực dần rơi vào tay các chúa đất ở vùng quê và các thương gia ở thành thị. Điều này đã dẫn đến sự hình thành của các thành bang (city-state) độc lập ở miền bắc Italia. Trong khi đó ở miền nam, các cuộc khởi nghĩa của người địa phương cũng làm suy yếu sự cai trị của người Saracens ở Sicilia và các thành phố ven biển. Sau đó những vùng đất này bị người Norman xâm lược khoảng năm 1100 và chiếm giữ trong nhiều năm.

Những thành bang mạnh nhất ở miền bắc là Milano, Genoa, Firenze và Pisa. Các thành bang này hoàn toàn độc lập và cũng thường xuyên gây chiến tranh với nhau, với vùng đất của Giáo hoàng ở miền trung và với các vua Pháp ở phía bắc. Sau đó một thành bang ở bờ biển phía đông bắc Italia là Venezia (Venice) cũng trở nên giàu mạnh nhờ sự hậu thuẫn của đế quốc Byzantine. Mặc dù thường xuyên phải chịu đựng các cuộc tấn công của Đế quốc La Mã Thần thánh nhằm giành lại quyền thống trị, các thành bang này vẫn đứng vững.

Các thành bang có quan hệ buôn bán rất phát đạt với phần còn lại của châu Âu và là đất lành cho các nhà buôn thành đạt và các nghệ nhân tài năng tìm đến sinh sống. Nhiều thành bang do các gia tộc quyền thế cai trị - như dòng họ Visconti (và sau đó là Sforza) ở Milano, dòng họ Scaligeri ở Verona và dòng họ Gonzaga ở Mantua. Firenze do dòng họ Medici, gia tộc các chủ nhà băng, cai quản.

Vào thế kỷ 15–16, những phát hiện khảo cổ cùng với những hiện vật thu được từ các con tàu đắm ở Địa Trung Hải đã khởi nguồn cho sự bùng nổ của một phong trào văn hóa vĩ đại tại Italia, gọi là Phục hưng (có nghĩa là “tái sinh”, bắt đầu từ mong muốn phục hồi lại những giá trị văn hóa rực rỡ thời La Mã). Điểm nổi bật của tư tưởng Phục hưng là ở chỗ nó nhấn mạnh con người làm chủ số phận của mình chứ không phải là những nạn nhân của định mệnh. Là những người say mê nghệ thuật, các dòng họ cai quản những thành bang Italia thời kỳ Phục hưng đã thuê các họa sỹ, điêu khắc gia, kiến trúc sư và thi sỹ về làm việc cho mình. Kết quả là họ có được một tài sản rất phong phú về nghệ thuật, văn hóa và triết học, chúng ảnh hưởng vô cùng to lớn đến tư tưởng và quan niệm của Tây Âu.

Con người lý tưởng của thời Phục hưng có tri thức rộng lớn về nhiều mặt, cả về khoa học cũng như sáng tạo. Leonardo da Vinci là một ví dụ điển hình. Ông là sự kết hợp hoàn hảo giữa một nhà khoa học, một kỹ sư và một nghệ sỹ tài năng. Nhà tư tưởng của thời Phục hưng mang trong mình lý tưởng của Hy Lạp cổ đại về cái đẹp và nghệ thuật phối cảnh, và sống với quan niệm con người là một cá nhân độc lập, có thể định hướng cuộc đời mình một cách duy lý.

Thời kỳ thống trị của ngoại bang

Khi các thành bang lớn hơn mở rộng diện tích ra vùng xung quanh, thu nạp các thành phố nhỏ hơn, họ đã tham gia vào những mối quan hệ chính trị ngoại giao khá phức tạp. Các cuộc chiến tranh thường xuyên giữa các thành bang đã đem đến Italia những toán quân đánh thuê (gọi là Condottieri) và cuối cùng là sự can thiệp của nước ngoài. Năm 1494, Charles VIII của Pháp xâm chiếm Italia, bắt đầu thời kỳ thống trị của ngoại bang kéo dài đến tận thế kỷ 19.

Đến năm 1550 hầu hết các vùng của Italia phải chịu khuất phục trước Habsburg Charles V, người vừa là vua của Đế chế La Mã Thần thánh vừa là vua Tây Ban Nha. Khi Charles bị thoái vị năm 1555-56, lãnh thổ của Habsburg được chia cho anh của ông là Ferdinand I và con trai ông là Philip II ở Tây Ban Nha. Italia là phần chia thuộc về Tây Ban Nha. Sau cuộc chiến giành quyền thừa kế ở Tây Ban Nha (1701-1714), nước Áo đã thay thế họ trở thành những kẻ cai trị ở miền bắc Italia. Miền trung vẫn thuộc về giáo hoàng và miền nam thuộc về triều đại Bourbon Tây Ban Nha.

Trong thế kỷ 18 một số vùng của Italia giành được độc lập. Năm 1720, công quốc Savoy ở gần biên giới với Pháp (bao gồm Torino và một phần xứ Lombardia) đã sát nhập với đảo Sardinia để lập ra Vương quốc Sardinia. Năm 1735, Vương quốc Hai Sicilia giành được độc lập từ tay dòng họ Bourbon Tây Ban Nha. (Vương quốc này bao gồm đảo Sicilia và miền nam Italia. Sở dĩ có tên gọi Hai Sicilia vì đảo Sicilia tách ra khỏi phần đất liền từ năm 1282 và cũng xưng là Vương quốc Sicilia, vì vậy trong một thời gian dài có đến hai Vương quốc Sicilia. Sau đó hai vương quốc nhập làm một nhưng vẫn được gọi bằng cái tên Hai Sicilia.)

Vào cuối thế kỷ 18, đạo quân của Cộng hòa Pháp do Napoleon Bonaparte chỉ huy bắt đầu xâm lược miền bắc và miền trung Italia. Đến 1799, Napoleon hầu như đã kiểm soát hoàn toàn bán đảo Italia và nắm quyền cai trị. Ông ta cải tổ quân đội Italia, xây dựng cầu cống, trường học, thủ tiêu hệ thống quản lý ruộng đất phong kiến, tịch thu ruộng đất của giáo hoàng, sửa đổi hệ thống pháp luật và khôi phục lại nhiều đường sá ở Italia. Bằng việc hợp pháp hóa những cải cách này và khơi dậy ý thức dân tộc của người Italia, Napoleon đã đem lại cho Italia một nền móng vững chắc cho sự độc lập.

Đến năm 1815 khi Napoleon thua trận Waterloo, Hiệp ước Viene trao lại Italia cho những người chủ cũ: giáo hoàng, vương quốc Sardinia (gồm Piemont, Sardinia, Savoy và Genoa), vương quốc Sicilia (gồm Naples và Sicilia), công quốc Toscana và một số công quốc nhỏ, hai xứ Lombardia và Venetia vẫn nằm trong tay người Áo. Tuy vậy những người Italia đã thực sự chán ghét ách thống trị ngoại bang và mong muốn được xây dựng một nước Italia thống nhất của riêng mình.
AKAZZURRI

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #13 on: April 14, 2011, 09:26 AM »
Phong trào độc lập và thống nhất Italia

Hiệp ước Viene và những chính sách hà khắc phản động của nhà Klemen nước Áo (với vua là Fürst von Metternich) đã làm tăng thêm sự bất mãn và căm ghét ngoại bang trong dân chúng. Năm 1831, Giuseppe Mazzini, nhà tư tưởng chính trị lỗi lạc người Genoa, đã khởi xướng một phong trào thống nhất gọi là Risorgimento (Hồi sinh). Những nhà cách mạng và ái quốc đã cùng hưởng ứng và hăng hái hoạt động cho mục đích: thống nhất và độc lập cho Italia. Tổ chức yêu nước bí mật Carbonari đã tổ chức một loạt các cuộc khởi nghĩa trong những năm 1820 nhưng không thành công.
Tiếp đó là nhóm “Thanh niên Italia” (La Giovine Italia) của Mazzini hoạt động trong những năm 1830 và hậu thuẫn cho cuộc khởi nghĩa năm 1848 xảy ra trên tất cả các thành phố lớn của Italia và lan rộng cả châu Âu. Trong cuộc khởi nghĩa này, một loạt thành phố giành được chính quyền và lập nền cộng hòa như Roma (buộc giáo hoàng Pius IX phải bỏ trốn), Milano, Venezia, vua Charles Albert của Sardinia cùng với sự ủng hộ của xứ Toscana phát động cuộc chiến giành xứ Lombardia. Nhưng tất cả đã nhanh chóng bị quân Áo đàn áp. Năm 1849 ở Roma, quân Pháp ủng hộ giáo hoàng đã đánh bại đội quân tình nguyện dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh khởi nghĩa Giuseppe Garibaldi, ông đã phải bỏ trốn sang Nam Mỹ. Chỉ có Sardina là còn giữ được chính phủ cộng hòa của mình
Mặc dù Charles Albert đã bị thua trong cuộc chiến chống lại quân Áo, những người Piedmon vẫn không từ bỏ hy vọng mở rộng lãnh thổ của mình. Camillo di Cavour, người trở thành thủ tướng năm 1852, cũng vậy. Nhưng ông biết Piedmont không thể tự mình làm điều đó, do đó ông đã áp dụng một chính sách ngoại giao cực kỳ khôn khéo lợi dụng Anh và Pháp để đuổi quân Áo.

Một trong những cố gắng đó là sự tham gia của họ vào Chiến tranh Crimean (Crimean War, giữa Nga và liên minh Anh, Pháp, Ottoman) năm 1855, tuy rằng vấn đề Italia vẫn không được đề cập đến trong Hiệp ước Pari kết thúc chiến tranh nhưng nước Áo đã bị cô lập do họ đã đứng trung lập trong cuộc chiến này.

Vào ngày 14/1/1858, một nhà ái quốc Italia là Felice Orsini đã cố gắng ám sát hoàng đế Napoleon III của Pháp. Từ trong tù người này đã viết một thư thỉnh cầu đến Napoleon III mong muốn vị vua này giúp đỡ nước Ý, Napoleon III, thời trẻ đã từng gia nhập Carbonari, đã bị thuyết phục và mùa hè năm 1858, ông đã đồng ý hội kiến với Cavour ở Plombières. Hai bên thống nhất sẽ tiến hành chiến tranh chống lại Áo, Piedmont sẽ giành được những vùng đất mà Áo đang chiếm đóng ở Italia (Lombardia và Venetia), cũng như các công quốc Parma và Modena, trong khi Pháp sẽ được Piedmont nhượng lại các lãnh thổ bên kia dãy Alpes là Savoy và Nice.

Tháng 3 năm 1859, sau một số hoạt động quân sự khiêu khích của Piedmont, nước Áo gửi tối hậu thư yêu cầu Piedmont phải giải trừ quân bị, Cavour từ chối và Áo tuyên chiến với Piedmont. Theo đúng kế hoạch, Pháp đã can thiệp vào cuộc chiến với danh nghĩa bảo vệ Piedmont khỏi quân Áo.
Vào 4/6/1859 ở Magenta, liên quân Pháp – Sardinia đã chiến thắng quân Áo, buộc đối phương phải rút khỏi phần lớn Lombardia và để liên quân tiến vào Milan.Vào 24/6, trận chiến thứ hai đẫm máu diễn ra ở Solferino, quân Pháp tiếp tục thắng lợi và đẩy quân Áo đến biên giới của Venetia.

Cảm thấy cần phải mất một chiến dịch dài và nhiều tổn thất mới chiếm được Venetia, và lo sợ cho tình hình nước nhà, hoàng đế Pháp đã tìm kiếm một cách để thoát khỏi cuộc chiến. Ngày 11/7, ông ta gặp riêng Franz Joseph ở Villafranca giấu không cho các đồng minh Piedmont biết. Một hiệp định đình chiến sơ bộ đã được quyết định, trong đó người Áo vẫn được giữ lại Venetia, còn Lombardia thì thuộc về Pháp (và sẽ chuyển giao cho Piedmont).

Những người Sardinia rất tức giận vì bị đồng minh phản bội, Cavour yêu cầu phải tiếp tục cuộc chiến và từ chức khi vua Victor Emmanuel quyết định chấp nhận quyết định của Pháp (nhưng ông quay lại nhậm chức vào tháng 1/1860). Tuy nhiên trong thời gian gián đoạn trước khi thỏa thuận ở Villafranca được chính thức hóa ở Zurich vào tháng 11, quân đội Piedmont đã chiếm lĩnh những thành bang nhỏ và một vùng đất của giáo hoàng, Papal Legations (bao gồm Ferrara, Bologna và Romagna). Tháng 12, Toscana, Parma, Modena và Papal Legations hợp nhất thành Các tỉnh Thống nhất Trung Italia (United Provinces of Central Italy). Tháng 3/1860, các tỉnh này sát nhập vào vương quốc Piedmont - Sardinia. Để đổi lấy sự chấp thuận của vua Pháp về việc này, Cavour đã phải nhượng lại Savoy và Nice cho Pháp. Như vậy, phần lớn miền bắc và miền trung Italia đã thống nhất.

Như vậy cho đến mùa xuân năm 1860, ở Italia chỉ còn bốn vùng lãnh thổ, người Áo ở Venetia, vùng đất của giáo hoàng, Vương quốc Piedmont-Sardinia mới mở rộng và Vương quốc Hai Sicilia. Tất nhiên là Cavour vẫn tiếp tục hướng tới việc thống nhất toàn bộ các lãnh thổ vào Piedmont.

Vua Francis II được thừa hưởng từ cha mình là Ferdinan II một đội quân 150 nghìn người được tổ chức tốt, nhưng sự bạo ngược của cha ông đã làm nảy sinh rất nhiều tổ chức bí mật của dân chúng, đồng thời những lính đánh thuê người Thụy Sĩ đột ngột bị gọi về nước họ, để lại cho Francis những quân địa phương không mấy tin tưởng. Đó là thời cơ tốt cho phong trào thống nhất. Tháng 4/1860 hai cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Messina và Palermo (trên đảo Sicilia), tuy nhiên quân lính đã đàn áp nhanh chóng.

Trong khi đó, Garibaldi rất phẫn uất vì thành phố quê hương Nice của mình rơi vào tay người Pháp đã chuẩn bị sử dụng những người đi theo ông để giành lại vùng đất này. Cavour, muốn tránh một cuộc chiến tranh với người Pháp, đã thuyết phục Garibaldi đưa lực lượng của ông đến Sicilia. Vào 6/5/1860, Garibaldi và đội quân gồm một nghìn người tình nguyện Italia (được gọi là “I Mille” – “Một nghìn”), khởi hành từ Quarto gần Genoa, sau khi dừng chân ở Talamone đã đổ bộ lên bờ biển phía tây Sicilia gần Marsala ngày 11 tháng 5.

Garibaldi chiêu mộ thêm những đội quân nhỏ nằm rải rác gần Salemi và cùng nhau đánh bại quân của Francis tại Calatafimi vào ngày 13. Chỉ trong ba ngày, đội quân của ông đã tăng lên 4 ngàn người. Sau một loạt trận đánh ác liệt, Garibaldi đã tiến đến thủ đô Palermo của Sicilia, ngày 27/5, ông vây hãm Porta Termina ở Palermo, trong khi quần chúng nổi dậy lập chiến lũy chiến đấu trên đường phố.

Một tướng lĩnh Neapolitan là Lanza đã đem 25 nghìn quân tới Sicilia và điên cuồng ném bom Palermo khiến thành phố này gần như bị phá hủy. Sau đó với sự can thiệp của một đô đốc hải quân Anh, một thỏa thuận đình chiến được lập, theo đó quân Neapolitan rút lui và để lại thành phố cho đội quân nhỏ bé hơn của Garibaldi.

Thành công vang dội này khiến danh tiếng của Garibaldi lan rộng như một anh hùng dân tộc còn nghi ngờ và mất tinh thần bao trùm lên triều đình Neapolitan, vua Francis vội vàng triệu tập các bộ trưởng và đề nghị khôi phục hiến pháp, tuy nhiên những cố gắng này là quá muộn để lấy lại niềm tin của dân chúng vào triều đại Bourbon này.

Sáu tuần sau khi Palermo đầu hàng, Garibaldi tấn công Messina, chỉ trong một tuần thành lũy cuối cùng này cũng đầu hàng, Garibaldi đã chiếm trọn Sicilia. Ông tiếp tục hướng tới vùng đất liền, vượt qua eo biển Messina bằng hạm đội thu được của quân đội Neapolitan. Binh lính đóng ở Calabria ngay lập tức đầu hàng. Khi hành quân lên phía bắc, dân chúng ở mọi nơi đều hoan nghênh ông và quân đội kháng cự rất yếu ớt. Đến cuối tháng 8, Garibaldi đã tới Cosenza và 5/9 ở Eboli, gần Salerno. Napoli ở vào thế bị vây hãm, 6/9 vua Francis tập hợp 4000 quân lính trung thành và rút lui về bên kia sông Volturno. Ngày hôm sau Garibaldi và đồng đội tiến vào Napoli đang mở rộng thành chào đón...

Miền nam và một phần miền trung tiếp tục được sát nhập vào Sardinia, chỉ còn Roma và Venetia là còn nằm trong tay Giáo hoàng và người Áo. Vào ngày 18/2/1861, Victor Emmanuel II tập hợp tất cả các nghị sĩ của các bang và lên ngôi ở Torino với danh hiệu “Vua của Italia”.

Cuộc chiến tranh Áo - Phổ năm 1866 đem đến cho Italia một cơ hội lớn để giành lại vùng Venetia, Italia đã liên minh với Phổ và tuyên bố chiến tranh với Áo, mặc dù thua nhiều hơn thắng nhưng nhờ những thắng lợi của quân Phổ ở mặt trận phía bắc, phe Phổ - Italia đã buộc Áo phải từ bỏ Venetia khi ký hiệp định kết thúc chiến tranh. Ngày 19/10/1866, Venetia chính thức thuộc về Italia. Toàn bộ bán đảo đã thống nhất chỉ còn Roma là vẫn nằm trong tay Giáo hoàng nhờ sự bảo vệ của quân Pháp (và chính sách không đối đầu trực tiếp với Pháp của Victor Emmanuel).

Mãi đến năm 1870, khi chiến tranh Pháp – Phổ bùng nổ, hoàng đế Napoleon III của Pháp đã phải rút hết quân từ Roma về nước để chống quân Phổ. Ngay sau đó chính phủ Italia đã tận dụng thời cơ tuyên bố chiến tranh với các bang của giáo hoàng. Ngày 20 tháng 9, quân đội Italia đã tiến vào Roma sau 3 giờ nã đại bác. Hai tỉnh Roma và Latium được sát nhập vào Vương quốc Italia, Giáo hoàng chỉ còn được giữ một phần đất nhỏ Vatican nằm gọn trong Roma. Sau đó, thủ đô của Italia được chuyển đến Roma vào tháng 7 năm 1871. Hai vùng Trieste và Trento là hai lãnh thổ cuối cùng được sát nhập vào Italia sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Italia thời hậu thống nhất và phát xít

Sau khi thống nhất, Italia vẫn còn rất rối ren. Mặc dù các vùng khác nhau giờ đây đã chịu sự cai quản của chính quyền trung ương, nhưng họ vẫn có ngôn ngữ và tập quán riêng. Roma trở thành thủ đô của đất nước.
Trong vòng 35 năm thống nhất đầu tiên, Italia trải qua 33 chính phủ cầm quyền. Nhiều người dân Italia mù chữ và rất nghèo khổ. Từ năm 1860 đến năm 1920, hàng triệu người Italia đã rời bỏ đất nước đi tìm cuộc sống tốt đẹp hơn ở nơi khác. Khi Thế chiến thứ Nhất bùng nổ, Italia thoạt đầu giữ địa vị trung lập, nhưng sau đó đã gia nhập phe Anh – Pháp, kết quả là 600 ngàn người đã bỏ mạng trong chiến tranh.

Sau Thế chiến thứ Nhất, Italia trải qua một thời kỳ bất ổn xã hội. Để tìm một người đủ sức vực dậy tinh thần dân tộc, đem lại sức sống mới cho nền kinh tế, ổn định tình hình chính trị và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, người Italia đã quay sang ủng hộ Benito Mussolini – con trai một người thợ rèn theo chủ nghĩa xã hội – một giáo viên trung học, một nhà hùng biện có sức thuyết phục và là một chính trị gia nhiều tham vọng và có sức mê hoặc dân chúng.

Năm 1921, Mussolini thành lập Đảng Phát xít và giành được 35 ghế trong quốc hội. Ông ta còn được dân chúng ưa thích hơn nữa với những hứa hẹn không tăng thuế và kìm hãm lạm phát, kiểm soát các công đoàn và ngăn chặn bãi công, duy trì luật pháp và trật tự. Năm 1922, Vua Victor Emmanuel Đệ tam chỉ định Mussolini là thủ tướng. Năm 1925, “Il Duce” (Lãnh tụ), như cách ông ta tự xưng, trở thành nhà độc tài của Italia và bãi bỏ nền dân chủ. Ông ta đặt ra ngoài vòng pháp luật tất cả các đảng phái chính trị khác ngoài Đảng Phát xít, kiểm duyệt báo chí, bức hại các đối thủ, giải tán các nghiệp đoàn và lập ra lực lượng cảnh sát mật để đối phó với những người chống đối.
Với mưu toan làm sống lại kỷ nguyên vĩ đại của đế chế La Mã, Mussolini xâm chiếm Ethiopia vào năm 1936. Sự phản đối của Liên hiệp quốc đã đẩy Mussolini tiến gần hơn đến một liên mình với Adolf Hitler ở Đức. Năm 1940, Mussolini tuyên chiến với Anh và Pháp, nhưng quân đội của ông ta luôn bị đánh bại trong các trận giao phong tại Pháp, Phi châu, Hy Lạp và Albania trong Thế chiến thứ hai.

Nhận ra rằng dân chúng chống lại sự liên minh của Italia với nước Đức quốc xã, nhà vua cách chức Mussolini và ký hiệp định đình chiến với Đồng minh vào năm 1943. Mặc dù bực bội với những thất bại của quân đội Mussolini, quân Đức vẫn tràn vào miền bắc Italia và khôi phục địa vị cho ông ta. Năm 1944, người Italia tự tập hợp lại chống quân Đức. Đầu năm 1945, sau khi quân Đức thất thế ở châu Âu, các du kích Italia đã treo cổ Mussolini và người tình của ông ta.

[div align=\\\"right\\\"]From Internet[/div]
AKAZZURRI

Offline buffon82

  • Youngster
  • *
  • Posts: 25
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #14 on: November 20, 2011, 11:13 PM »
Bài viết này có liên quan đến đội bóng tôi yêu k dzay ??? juve5
[div align=\\\"center\\\"]Tôi yêu juventus[/div]

Offline akazzurri

  • Io Che Sarò Bianconeri
  • JFC Hero
  • *
  • Posts: 3,199
  • Gender: Male
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #15 on: November 20, 2011, 11:27 PM »
Bài viết này có liên quan đến đội bóng tôi yêu k dzay ??? juve5

có liên quan đến đất nước của đội bóng ấy anh à!
AKAZZURRI

Offline nguyenvanlang

  • Juventini
  • *
  • Posts: 348
Chào Italia - Đất nước xinh đẹp
« Reply #16 on: February 12, 2012, 01:22 PM »
Mình yêu đất nước Italia bắt đầu khi xem Juve đá bóng, hình như nó là năm 93 thì phải. Nơi bóng đá phản ảnh cuộc sống chân thật nhất! :x
....LOVE..cũng giống như 2 người cùng kéo căng một sợi dây chun...Khi một người buông tay...người còn lại nhất định sẽ đau.