Thời kỳ các cuộc nội chiến (khoảng 146 - 30 Tr.CN)
Đến 146 TCN, những người Roman đã là quyền lực duy nhất còn lại trong vùng Địa Trung Hải và họ nắm giữ hầu như tất cả các vùng ven biển.
Nhưng Rome cũng có những trục trặc. Đầu tiên, ngay tại Rome, 2 anh em Cornelius Gracchú và Gaius Gracchus tìm cách lấy lại 1 số đất đai cho dân nghèo. Nhưng các nhà quý tộc giàu có trong Viện nguyên lão không đồng ý. Vào năm 133 và 123 Tr.CN, chính những thành viên Viện nguyên lão cùng với những kẻ ủng hộ đã truy đuổi và lần lượt giết chết 2 người này.
Thứ hai, những người châu Phi đã tấn công Carthage nay lại tiếp tục sinh sự. Rất nhiều thương nhân người Roman đang sinh sống tại châu Phi bị tàn sát hàng loạt. Vì vậy khoảng năm 100 Tr.CN quân đội Roman lại phải quay lại chiến đấu tại châu Phi. Nhưng lúc này rất khó khăn để có đủ binh lính cho mặt trận châu Phi, tướng Marius đã phải lấy những người nghèo khó thất nghiệp từ Rome và khuyến khích họ bằng chiến lợi phẩm. Nhờ đó Rome đã thắng.
Thứ ba, các thành phố Italy khác cảm thấy rằng Rome đã không đối xử đủ tốt với họ. Họ muốn tăng quyền hạn bầu cử. Vì vậy trong những năm 80 Tr.CN, đã có 1 cuộc chiến tranh với các thành phố Italy, viên tướng của mặt trận này là Sulla. Cuộc chiến tranh này gọi là Cuộc chiến tranh liên minh. Cuộc chiến kéo dài song cuối cùng Rome cũng thắng.
Nhưng rồi Marius và Sulla lại đánh lẫn nhau khi muốn trở thành tướng chỉ huy ở Tây Á. Marius thắng nhưng Sulla đem quân đội hành quân về Rome và đe dọa tấn công Rome nếu Viện nguyên lão không bổ nhiệm ông ta. Sulla thành công và đi Tây Á. Sau đó ông ta trở về với quyền lực lớn và trở thành nhà độc tài, lấn quyền của cả Viện nguyên lão.
Vì vậy sau khi Marius và Sulla chết, Viện nguyên lão Rome đã không còn đủ quyền lực để điều khiển đế chế Rome nữa. Dân Roman muốn tìm kiếm 1 viên tướng tiếp theo có đủ khả năng nắm quyền. Có 3 kẻ tranh nhau, đó là Pompey - bạn của Sulla, Crassus - 1 kẻ giàu có và Julius Ceasar - bạn của Marius. 3 người này thay nhau nắm quyền trong khoảng 10 năm. Trong thời gian này Ceasar chiếm xong xứ Gaul (nước Pháp ngày nay). Khi Crassus bị giết trong cuộc chiến với những người Parthians (những người đến Tây Á từ Seberia, vào khoảng 100 Tr.CN lập nên nhà nước Parthia ở khoảng Iran ngày nay) ở Tây Á thì Pompey và Caesar bắt đầu đánh nhau. Rất nhiều người chết và cuối cùng Caesar thắng trong trận Pharsalus. Pompey phải chạy sang Ai Cập và bị những người Ai Cập giết. Khi Caesar tiến vào Ai Cập, ông ta vui mừng vì Pompey đã bị giết nên đã đối xử rất hòa nhã với người Ai Cập, Caesar cũng gặp Cleopatra ở đây và mang Cleopatra về Rome. Nhưng khi Caesar tuyên bố trở thành Độc tài thâu tóm mọi quyền lực, ông ta đã bị các thành viên của Viện nguyên lão giết chết vào năm 44 Tr.CN.
1 nhóm quyền lực khác được thành lập gồm Marc Anthony - bạn của Caesar, Lepidus - 1 kẻ rất giàu có và Octavian - cháu họ và là con nuôi của Caesar. Mọi chuyện lại lặp lại. Lepidus bị gạt bỏ. Rồi Anthony cùng người tình Cleopatra gây chiến với Octavian. Nhưng năm 31 Tr.CN Octavian đánh bại Anthony và Cleopatra ở trận Actium, khiến 2 người này phải tự sát.
Đế chế Rome
Các triều đại dòng Julio-Claudians (30Tr.CN - 68 Sau CN)
Dân chúng Roman đã quá mệt mỏi vì chiến tranh và giết chóc và mọi người cũng quá sợ hãi Octavian. Bởi vậy khi Octavian nắm giữ mọi quyền hành như 1 hoàng đế, không ai dám ngăn cản ông ta. Octavian bắt mọi người gọi là Augustus (có nghĩa là thần thánh). Nhưng Octavian khôn ngoan hơn người chú Julius Caesar, ông ta không nhận mình là Độc tài (Dictator) mà nhận mình là Công dân thứ nhất (First Citizen), cũng không giải tán Viện nguyên lão, chỉ bắt Viện nguyên lão tuân theo những gì ông ta muốn. Octavian tự chỉ định mình là quan bảo dân, và vì vậy có quyền phủ quyết những gì Viện nguyên lão muốn làm trái ý ông ta. Dân chúng biết rằng Augustus thực sự đã thâu tóm mọi quyền hành nhưng miễn là ông ta giữ cho họ hòa bình và đừng tuyên bố trở thành độc tài là đủ. Augustus sống tới tận năm 13 sau CN. Khi ông ta chết, điều dân chúng nhớ về ông ta chỉ là giết chóc và máu.
Con rể của Augustus, Tiberius, lên làm Công dân thứ nhất. Tiberius thực sự không phải là kẻ cầm quyền giỏi, ông ta chủ yếu dùng thời gian vào tiêu khiển như bơi lội và tiệc tùng. Tiberius đẩy phần lớn công việc cần giải quyết cho các trợ lý. Tuy thế dân chúng nghĩ rằng thế vẫn tốt hơn là nội chiến.
Tiberius chết năm 37 sau CN và cháu họ của ông ta, Gaius, thường được gọi là Caligula, con trai của Germanicus, lên nắm quyền. Ban đầu Caligula không phải là 1 Hoàng đế (Emperor) tồi, nhưng sau đó ông ta bị tâm thần. Ông ta bắt đầu làm những việc điên rồ như muốn đưa con ngựa của mình vào Viện nguyên lão, muốn cưới chính em gái ông ta. Đến năm 41 sau CN, dân chúng quyết định phế truất ông ta và những lính bảo vệ đã giết ông ta.
Bác của Caligula, Claudius, lên nắm quyền. Claudius làm được nhiều điều hơn những gì người ta mong đợi. Dưới triều đại của Claudius, Rome đã chiếm được Anh (England) và chuyển thành 1 tỉnh của mình. Nhưng vợ của Claudius, Agrippina đã đầu độc giết chết chồng bằng nấm độc (theo sử gia Suetonius người Roman).
Năm 54 sau CN, con riêng vợ của Claudius, Nero, lên nắm quyền. Nero mới 16 tuổi và mẹ của Nero, Agrippina, mới thực sự là người nắm quyền hành chính trị, đến tận khi Nero 25-26 tuổi. Khi đó Nero muốn lấy lại quyền lực thực sự và đã giết mẹ. Nero nổi tiếng về vụ cháy lớn năm 64 sau CN ở Rome. Dân chúng buộc tội Nero cho thực hiện đám cháy để lấy cớ bắt bớ và thiêu sống những người Thiên chúa giáo. Nero cũng cho hành quyết thánh Peter và thánh Paul. Sau khi giết mẹ, Nero bị dân chúng phản đối. Viên toàn quyền (Governor) Tây Ban Nha, Galba, nổi loạn chống lại Nero và kéo quân về Rome. Khi biết mình sẽ thua, Nero tự sát. Nero là hoàng đế cuối cùng trong gia đình Julius Caesar và Augustus.
Năm của 4 vị hoàng đế
Khi kết thúc của gia đình Augustus, nhiều người đã nghĩ rằng Rome có thể trở lại chế độ cộng hòa thực sự. Nhưng họ không biết rằng những cuộc nội chiến đẫm máu mà họ đã muốn lãng quên lại trở lại. Ngay khi Nero chết, Galba tự lên làm Hoàng đế. Nhưng gần như ngay lập tức, tháng Giêng năm 69 sau CN, viên toàn quyền Bắc Đức (Upper Germany), Vitellius, cũng nổi loạn, và đem quân về Rome. Và gần như cùng thời điểm, Otho, 1 trợ thủ của Galba, lật đổ và giết chết Galba. Otho trở thành Hoàng đế trong 1 thời gian ngắn. Otho đánh nhau với Vitellius nhưng bị thua và bị giết. Vitellius lên làm Hoàng đế nhưng những gì được biết về ông ta chỉ là Vitellius sở thích ăn uống.
Cả 3 hoàng đế ngắn ngủi này đều từ phía tây đến, nhưng cùng lúc đó, lực lượng quân đội ở phía đông, ở Tây Á, bắt đầu muốn tranh giành quyền lực. Họ chọn vị tướng của mình, Vespasian, để làm Hoàng đế. Mùa thu năm 69 sau CN, 1 trong các chiến hữu của Vespasian đánh thắng Vitellius và giết Vitellius. 4 Hoàng đế trong vòng 1 năm, dân chúng quá khiếp sợ những cuộc nội chiến trong quá khứ, vì vậy họ vui mừng chấp nhận Vespasian lên làm Hoàng đế.
Các triều đại dòng Flavians
Vespasian cuối cùng cũng rời Tây Á đi thuyền về Rome mùa xuân năm 70 sau CN. Ông ta trở thành 1 Hoàng đế được yêu mến của Rome. Dù rằng Vespasian chú trọng vào quân đội hơn là bất cứ thứ gì khác, và ông ta tin dùng quân đội Tây Á nơi ông ta đã chỉ huy. Vespasian được lòng dân vì ông ta sống đơn giản, không tổ chức tiệc tùng lớn và không tiêu pha hoang phí như các Hoàng đế dòng Julio-Claudian. Đế quốc có rất nhiều tiền trong ngân khố. Vespasian làm Hoàng đế trong 10 năm, ông ta chết năm 79 sau CN.
Khi Vespasian chết, con trai lớn của ông ta, Titus lên nắm quyền. Suýt nữa 1 cuộc nội chiến đã xảy ra. Titus xung đột với Viện nguyên lão vì ông ta yêu 1 phụ nữ Do thái tên là Berenice, 1 công chúa ở Tây Á, chứ không phải 1 phụ nữ Roman. Nhưng Titus cũng đã đàn áp 1 cuộc nổi dậy của dân Do thái ở Israel, phá hủy đền thờ lớn của người Do thái ở Jerusalem (Titus đã cho xây 1 Khải hoàn môn lớn bằng đá để kỷ niệm chiến thắng này). Titus chết năm 81 sau CN, khi còn rất trẻ, chỉ sau gần 3 năm cầm quyền.
Sau đó em trai của Titus là Domitian làm Hoàng đế. Domitian là 1 kẻ khác đời, luôn cho rằng cha mình Vespasian yêu mến Titus hơn nên rất tức giận. Domitian đã từng tổ chức nổi loạn chống lại Titus khi Titus còn làm Hoàng đế. Khi lên nắm quyền, Domitian tin rằng mọi người xung quanh muốn giết mình, bởi vậy Domitian đã giết nhiều thành viên Viện nguyên lão và dân thường vì nghi ngờ họ. Domitian cũng khủng bố những người Thiên chúa giáo. Domitian bắt mọi người gọi mình là Dominus et Deus (thánh và thần). Cuối cùng dân chúng không thể chịu đựng được sự cai trị của Domitian và ông ta bị ám sát vào năm 96 sau CN. Domitian cũng gần giống như bạo chúa Hippias của Hy Lạp.
Thời kỳ thịnh trị của 5 vị Hoàng đế
Khi Domitian bị ám sát, dân chúng rất lo sợ về những gì xảy ra sau khi Caesar bị ám sát và Nero tự sát, những cuộc nội chiến, sẽ tái diễn. Vì vậy Viện nguyên lão đã nhóm họp nhanh chóng và chọn 1 thành viên của Viện nguyên lão lên làm Hoàng đế, đó là Nerva. Nerva được chọn vì đã già và không có con trai để có thể kế thừa vương quyền. Ông ta không có nhiều thời gian để làm Hoàng đế, vì ông ta chết ngay năm 98, chỉ sau 2 năm nắm quyền. Nhưng Nerva đã khởi đầu 1 hệ thống bầu chọn Hoàng đế mới, 1 hệ thống làm việc tốt hơn sự kế thừa theo dòng tộc, đó là ông ta chọn 1 người có khả năng và nhận làm con nuôi. Người được Nevra thu nhận là Trajan.
Trajan đúng là đã cai trị rất tốt. Trajan mang quân đến chiếm được Dacia (Rumania ngày nay). Dacia có rất nhiều mỏ vàng và Rome trở nên rất giàu có nhờ vàng ở đây. Trajan còn xâm chiếm nhiều đất đai của người Parthians (dân từ Seberia, đã đến chiếm vùng Iran ngày nay), khai thông con đường tới Babylon (lúc này Alexander đại đế đã chết). Trajan đặt Thiên chúa giáo ra khỏi vòng pháp luật. Trajan cũng không có con trai, ông ta nhận cháu mình, Hadrian, làm con nuôi. Trajan chết năm 117.
Hadrian lên làm Hoàng đế. Hadrian không được lòng dân như Trajan vì ngay khi Trajan chết Hadrian quyết định rút quân khỏi những vùng đất Trajan đã chiếm được ở Tây Á, quân đội miễn cưỡng phải rút khỏi những nơi họ đã phải chiến đấu để dành được. Tuy nhiên Hadrian vẫn giữ được hòa bình trong lãnh thổ của đế quốc. Giống như Nerva và Trajan, Hadrian không có con và phải nhận con nuôi.
Khi Hadrian chết năm 134, con nuôi của ông ta, Antoninus lên làm Hoàng đế. Antoninus thường được gọi là Antonius Pius (1 tên thánh) vì ông ta quan tâm đến tôn giáo. Giống như Hadrian, Antonius không phát động bất kỳ cuộc chiến tranh nào, đế quốc Rome sống trong hòa bình và dân chúng được đối xử tốt. Antonius cũng lại nhận con nuôi, Marcus Aurelius.
Marcus là Hoàng đế cuối cùng của thời kỳ thịnh trị này, lên ngôi năm 161 sau khi Antonius chết. Giống như Seneca (nhà văn lớn giai đoạn các triều đại dòng Julius-Claudians) và nhiều người Romans khác, Marcus tin vào triết học Stoic (do Zeno khởi xướng, thời cổ Hy Lạp). 1 trong những điều đầu tiên Marcus làm là nhất quyết muốn chia sẻ quyền lực với em nuôi Lucius Verus. Lucius không thực sự quan tâm đến việc cai trị, nhưng theo quan điểm của triết học Stoic, Marcus muốn cho em nuôi có đủ quyền lực để Lucius sẽ không tìm cách giết mình để tranh đoạt quyền lực. Không giống các triều đại trước trong thời kỳ này, thời kỳ trị vì của Marcus không yên ổn. Ngay khi Antonius chết, những người Parthians đã tấn công phần lãnh thổ phía đông của đế chế, họ hy vọng là Rome có thể sụp đổ sau khi Antonius chết. Marcus đã phải phái Lucius và quân đội từ phần phía tây của đế quốc đi đánh dẹp, quân Roman thắng trận. Sau cuộc chiến này, người Roman bị nhiễm 1 bệnh dịch khủng khiếp từ những người Parthians, ngày nay không thể biết chắc là bệnh gì, có thể là đậu mùa. Binh lính từ phía đông trở về đã mang theo bệnh dịch lan tràn khắp đế quốc, rất nhiều người chết vì dịch bệnh. Ở phía bắc, những người German sống trong vùng ngày nay là Đức, Áo và Thụy Sĩ thấy rằng phần lớn lính Roman đã rời đi và đang có bệnh dịch lan tràn. Họ cho rằng đã đến lúc thích hợp để tấn công vào đế quốc. Trong suốt thời gian trị vì còn lại, Marcus phải lo đối phó với các bộ tộc German này. Khi sắp đi đến chiến thắng cuối cùng thì Marcus chết, vào năm 180 khi 59 tuổi. Lúc này đế quốc rất suy sụp vì bệnh dịch và dồn sức cho chiến tranh.
Các triều đại dòng Severans
Marcus Aurelius, không giống những Hoàng đế trước trong thời kỳ thịnh trị, có 1 con trai là Commodus. Khi Marus chết, Commodus lên nắm quyền. Commodus, giống như các Hoàng đế sau của dòng Julio-Claudians và Domitian của dòng Flavians, lớn lên ở cung đình, ông ta thích tiệc tùng hơn là chiến trận và làm việc điều hành đế chế. Nhưng nói chung ban đầu thì ông ta cũng lãnh đạo khá tốt, lập lại được hòa bình với người Germans. Nhưng khi Commodus quay về Rome, chị ông ta, Lucilla, được sự giúp đỡ của 1 số thành viên Viện nguyên lão tìm cách giết ông ta. Tuy kế hoạch này thất bại nhưng làm Commodus trở nên rất đa nghi, lại giống như Domitian và hàng loạt thành viên Viện nguyên lão cùng với dân thường đã bị giết. Tuy nhiên trong 1 kế hoạch giết 1 số bạn bè gần gũi của mình, Commodus bị chính những người này giết chết vào năm 192. Những người đã giết Commodus không biết lập ai lên làm Hoàng đế. 1 số nhân vật quyền lực hơn ở Rome đứng lên nhưng rốt cục họ lại nhanh chóng bị giết, có vẻ như nội chiến là khó tránh khỏi.
Năm 193, 1 người châu Phi tên là Septimius Severus, viên tướng chỉ huy quân đội ở Thượng Pannonia (theo tôi biết thì Pannonia là vùng Hungaria và bắc Slovenia ngày nay, nằm ở bờ phải sông Danube, nên có lẽ Thượng Pannonia là vùng tây Hungaria và 1 phần tây bắc Slovenia) được sự ủng hộ của quân đội lên làm Hoàng đế. Severus mất vài năm để đánh bại các kẻ cạnh tranh còn lại, trong đó chủ yếu là 1 người châu Phi khác, Albinus, viên toàn quyền ở Anh (Britain). Năm 197, những người Parthians nhân cuộc nội chiến lại tấn công vào đế quốc. Nhưng Severus nhanh chóng đem quân đến dẹp và dành chiến thắng quyết định. Sau khi đi thị sát vòng quanh đế quốc, Severus ở lại Rome 4 năm, trước khi đến Anh (England) để thực hiện 1 cuộc xâm lược mở rộng ở đây. Severus chết ở Anh (ở York) vào tháng 2 năm 211. Ông ta để lại đế quốc cho cả 2 người con trai, Carcalla và Geta với mong muốn cả 2 sẽ giúp đỡ nhau chỉ huy quân đội và coi giữ đế quốc.
Nhưng ngay từ đầu Carcalla và Geta đã không thể hòa hợp. Đến tháng 2 năm 212, Caracalla giết Geta và thậm chí phá bỏ tất cả các đài tưởng niệm ghi tên và gắn ảnh Geta trên khắp đế quốc (theo thông lệ những người đứng đầu đế quốc được lưu danh tại các đài tưởng niệm). Suốt thời gian trị vì của mình Caracalla gây chiến khắp nơi. Ông ta đánh người German ở phía bắc, chiến thắng. Sau đó Caracalla tấn công những người Parthians nhưng bị những người bảo vệ giam cầm đến chết vào giữa cuộc chiến với người Parthians, năm 217. Chỉ huy những lính bảo vệ này, Macrinus, tự tuyên bố làm Hoàng đế.
Tuy nhiên các phụ nữ thân thuộc trong gia đình Severan tìm cách chống lại. Vợ của Severus, Julia Domna, thành viên của 1 gia đình quyền lực lâu đời ở Tây Á (cụ thể là Syria), đã tuyệt thực đến chết để phản đối Macrinus. Chị gái của Domna, Julia Maesa (cách đặt tên của dân vùng Syria này có lẽ hơi khác biệt), có 1 người cháu trai gọi bằng bà là Elagabalus. Maesa giúp tiền bạc để Elagabalus tổ chức quân đội và Elagabalus đã đánh bại Macrinus. Elagabalus lên làm Hoàng đế nhưng quyền hành thực sự trong tay của Maesa. Maesa buộc Elagabalus lập 1 người cháu khác của mình là Alexander làm người thừa kế.
Sau đó mẹ của Alexander là Julia Mamaea (cũng là 1 người trong gia đình Julia) lập kế hoạch giết chết Elagabalus và mẹ Elagabalus vào năm 222. Sau đó Julia Maesa và Julia Mamaea cùng điều hành đế quốc. Nhưng có 1 vấn đề, họ là đàn bà nên không thể chỉ huy quân đội trong khi Alexander vẫn còn nhỏ. Khi quân Sassanid (1 quyền lực mới ở Tây Á bắt đầu khoảng năm 224 đến 650, trên vùng của Iran ngày nay) tấn công vào, 2 người đàn bà này không thể chỉ huy quân đội bảo vệ tốt đế quốc. Ngay lập tức, những người German lợi dụng tấn công ở phía bắc. Julia Maesa chết, Julia Mamaea càng không thể kiểm soát được tình hình. Quân đội thấy được vấn đề lập tức giết cả Mamaea và Alexander.