Juventus Fan Club in Vietnam - Bảo tàng JFC

.: Giải trí :. => KIẾN THỨC CHUNG => CÂU LẠC BỘ THƠ VĂN => Topic started by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:28 AM

Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:28 AM
Tác giả Anh Thơ :

 
Tên thật là Vương Kiều Ân (Vuơng là họ cha, Kiêù họ mẹ). Sinh năm 1919 tại Ninh Giang (Bắc Việt). Ông thân sinh là nhà nho, đậu tú tài, làm trợ tá. Vì ông là công chức, thuyên chuyển nay đây mai đó nên con cái thường phaỉ đôỉ trường luôn. Do đó, Anh Thơ thay đôỉ tơí ba trường (Hải Dương, Thái Bình, Bắc Giang) mà vẫn chưa qua bậc tiểu học.

Lười học, nhưng rất thích văn chuơng, tập làm thơ từ nhỏ. Thoạt đâù, lâý bút hiệu Hồng Anh, sau mơí đôỉ thành Anh Thơ.

Từng đăng thơ trên các tuần baó: Hà Nội báo, Tiểu Thứ Năm, Ngày Nay, Phụ Nữ, Bạn Đường. Được giaỉ thưởng khuyến khích về thơ của Tự Lực Văn Đoàn năm 1939 vơí thi phẩm Bức Tranh Quê.

Đã xuất bản: Bức Tranh Quê (Đời Nay 1941); Xưa (hợp tác với Bàng Bá Lân - Sông Thuơng, 1941); Răng Đen, tiểu thuyết (Nguyễn Du, 1942)
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:29 AM
Tác giả Bàng Bá Lân :


 
-Sinh vào tháng 12 năm 1912 tại Tân Sinh, Bắc Giang, chánh quán Hà Nam;
tổ tiên họ Nguyễn Xuân, về sau đổi ra họ Bàng, vào nam năm 1954; mất ngày
21 tháng 10 năm 1988 tại Sài gòn.

tác phẩm:

Tiếng Thông Reo
Xưa (cùng với Anh Thơ)
Tiếng Võng Ðưa
Người Vợ Câm
Kỷ Niệm Văn Thì Sĩ Hiện Ðại
Vào Thu
Cái Hay Của Tiếng Việt qua Tục Ngữ, Ca Dao
Câu Ðố Dân Gian
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:31 AM
Tác giả Bích Khê :


Ô ! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi ! Vàng rơi ! Thu mênh mông...


Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại quê ngoại là làng Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãị

Ông xuất thân trong một gia đình nho học, có học trung học ở Huế, Hà Nội, nhưng rồi bỏ dở. Bích Khê sau dạy dọc tư ở Phan Thiết, Huế. Ông mất đêm 17 tháng 1 năm 1946 vì bệnh lao phổị

Các phẩm tiêu biểu: tập thơ Tinh Huyết (1939, tác phẩm duy nhất được xuất bản trong sinh thời của tác giả); tác phẩm chưa in bao gồm các tập thơ Mấy Dòng Thơ Cũ (thơ viết 1931-1936), Tinh Hoa (thơ viết 1938-1944), Đẹp (viết 1939).

Dòng thơ Bích Khê bao gồm ba mạch chính: thơ tượng trưng, thơ huyền diệu, và thơ trụy lạc. Ông đến với thơ mới với nhiều sáng tạo và cách tân độc đáo; nhiều tìm tòi trong nghệ thuật tạo hình, cấu trúc, ngôn từ; và nhiều cảm xúc lạ, đẹp. Một số bài có ý thơ phóng túng và lời thơ táo bạọ

Nhận xét của Chế Lan Viên: "Nếu Nguyễn Bính là một miền đồng bằng thân thuộc thì Bích Khê là một đỉnh núi lạ. Có những nhà thơ làm thơ. Có những nhà thơ vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca duy tân thêm một bước. Có những nhà thơ đem đến một mùa lương thực. Lại có những nhà thơ cầm một dúm hạt giống mới trên tay. Khê thuộc vào hạng thứ hai".

Tài liệu tham khảo:

Tinh Huyết, Bích Khê, NXB Hội Nhà Văn tái bản, 1995.

Tổng Tập Văn Học Việt Nam, tập 27, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1990.
Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh & Hoài Chân.
Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, Nguyễn Tấn Long & Nguyễn Hữu Trọng.

Thi Ca Việt Nam Hiện Đại, Trần Tuấn Kiệt.
Đời Bích Khê, Quách Tấn.
Tuyển Tập Thơ Tiền Chiến, Hoài Việt biên soạn.

Thơ Mới -- Những Bước Thăng Trầm, Lê Đình Kỵ.

Tạp chí Tác Phẩm Văn Học số 8.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:34 AM
Tác giả Bùi Giáng :


(https://www.juvevn.net/proxy.php?request=http%3A%2F%2Fwww.luongsonbac.de%2Fimages%2Fthidan_buigiang.jpg&hash=32f290e2b31e687f1b8785b45b061cb963526e8c)

 Sinh năm 1926 tại Quảng Nam
Mất lúc 14 giờ ngày 7 tháng 10 năm 1998 tại Sàigòn

Tác phẩm:

Một vài nhận xét về bà huyện Thanh Quan
Một vài nhận xét về Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm, quan Âm Thị Kính
Vài nhận xét về truyện Kiều và truyện Phan Trần
Lá Hoa Cồn
Mưa Nguồn
Màu Hoa Trên Ngàn
Ngàn Thu Rớt Hột
Martin Heidegger và Tư tưởng hiện đại
Ði vào Cõi Thơ
Sa Mạc Phát Tiết
Mùa Thu Trong Thi Ca
Ngày Tháng Ngao Du

và các tuyển tập thơ khác được các bạn văn ở hải ngoại ấn hành
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:36 AM
Tác giả Bằng Việt:

 Bằng Việt (tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng) sinh năm 1941 tại phường Phú Cát, thành phố Huế. Lớn lên ở Hà Tây. Học phổ thông tại Hà Nội. Năm 1961 được cử đi học luật tại Matxcơva (Liên Xô). Từng làm việc ở Hội Luật học, Hội nhà văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Hà Nội.

Đã in các tập thơ: Hương Cây - Bếp Lửa (chung với Lưu Quang Vũ), Những gương mặt - Những khoảng trời, Đất sau mưa, Khoảng cách giữa lời, Phía nửa mặt trăng chìm, Ném câu thơ vào gió...

Những năm giữa thập kỷ sáu mươi, công chúng văn học đã chứng kiến sự xuất hiện của một loạt cây bút mới mà chỉ ít lâu sau đã trở thành chủ lực của thi đàn. Đó là Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Bế Kiến Quốc, Vương Anh, Phan Thị Thanh Nhàn... Vài năm sau lại là Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm, Anh Ngọc... Trong đội ngũ đông đúc này, Bằng Việt là một gương mặt riêng, có một chất riêng, không bị khuất lẫn, 'mất hút' trong một dàn đồng ca. Cái chất riêng ấy là gì? Nhiều người từng biểu dương phần 'trí tuệ', phần suy tưởng mà vẫn sinh động, gần gũi với cuộc sống của một cây bút trí thức sớm bộc lộ từ phần 'Bếp lửa' in chung với Lưu Quang Vũ. Thật ra Bằng Việt chỉ thật sự khẳng định được mình ở tập thơ thứ hai: tập Những gương mặt - Những khoảng trời (1973). Đây có thể coi là kết quả của chuyến 'đi thực tế' nhớ đời của nhà thơ trẻ vốn được số phận ưu đãi này. Cả tập thơ là một sự ngạc nhiên lớn, một sự cảm động chân thành của người trí thức trẻ khi tham gia trực tiếp vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân, đất nước, trước hết là với cái tập thể trẻ trung, dũng cảm ở Trường Sơn. Thơ Trường Sơn của Bằng Việt khác với những nhà thơ lính vô danh đã đành, cũng rất khác với thơ của 'ông vua' thơ Trường Sơn là Phạm Tiến Duật. Phạm Tiến Duật là một người lính thực sự đã sống đủ, sống kỹ cái đời sống Trường Sơn, từ đó cất lên tiếng thơ độc đáo không thể trộn lẫn. Bằng Việt là người của hậu phương đến với Trường Sơn. Anh không thể hiểu cảnh và người Trường Sơn bằng những người lính làm thơ, nhưng anh có những lợi thế của người mới đến, các giác quan chưa bị mòn nhẵn, trơ lì. Khoảng cách giữa 'người hậu phương' và người Trường Sơn không xa như giữa các nhà thơ 'tiền chiến' và người lính chống Pháp nhưng dù sao vẫn là khoảng cách. Khoảng cách này cắt nghĩa vì sao Bằng Việt hay dùng giọng bình luận, thuyết minh trong nhiều bài thơ, chẳng hạn 'Có gì cảm động đơn sơ lắm: Cái ngủ thời nào vẫn ngủ trưa nay!' (Nhà giữ trẻ); hoặc 'Thế đấy, cuộc đời/ Có những phút bất thần thành hạnh phúc!' (Trước cửa ngõ chiến trường)... Bằng Việt bình luận, thuyết minh, thuyết phục ai? Cho những 'người hậu phương' như anh, nhiều khi là cho chính anh, một Bằng Việt của mơ mộng, của thi ca, sách vở 'ngày xưa', đôi khi chưa là một với một Bằng Việt hôm nay đang hào hứng, quyết tâm đi vào cuộc sống chiến đấu của hàng triệu, hàng triệu người. Khi hai con người ấy hòa làm một, Bằng Việt đã có bài thơ 'Mẹ' (1972), một trong những bài thơ hay nhất của anh và cũng là một bài thơ xứng đáng trong mọi tuyển tập Thơ về giai đoạn ấy. Khác với giọng kể lể đôi khi dài dòng ở một số bài mang tính 'triết luận' vu khoát, mông lung, ở bài 'Mẹ', Bằng Việt khá gọn gàng, mực thước. Tình cảm chân thật khiến anh không cần nhiều lời mà giọng thơ vẫn thấm thía, lay động lòng người:

Con bị đau, nằm lại một mùa mưa
Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ
Nhà yên ắng. Tiếng chân đi rất nhẹ
Gió từng hồi trên mái lá ùa qua...


Hình bóng mong manh của người mẹ nghèo, tuổi già, bản vắng, đường xa, chiến tranh, cuộc gặp gỡ tình cờ... đặt giữa khung cảnh Trường Sơn khắc nghiệt khiến đứa con - tác giả - tiên liệu trước cuộc từ biệt cũng là vĩnh biệt. Sự biết ơn trước tấm lòng cao cả của nhân dân trong chiến tranh không cần nói ra người đọc vẫn cảm nhận được đầy đủ. Bài thơ đạt đến độ hàm súc, 'ý tại ngôn ngoại'.

Trong Tuyển Thơ 135 bài đương soạn, Bằng Việt tự xếp thơ mình vào ba phần. Phần I có tên chung 'Chứng tích một thời', phần II 'Tự bạch', phần III 'Những trải nghiệm'. Anh giải thích: làm như thế là học cách kết cấu của một bản giao hưởng, mở đầu là sôi nổi, cuốn hút, tiếp theo là trầm lắng, trữ tình và phần cuối là đúc kết. Nếu cần chọn một đại diện cho phần II, có lẽ bài 'Nghĩ lại về Pauxtôpxky' là thích hợp hơn cả. Những năm 60 của thế kỷ trước, nhà văn Nga - Xô-viết Pauxtôpxky là thần tượng của cả một lớp thanh niên Việt Nam vào đời với đầu óc thấm đẫm tình cảm lãng mạn (tích cực). Bài thơ của Bằng Việt, như thường thấy, là sự tranh biện với chính mình và thế hệ mình. Về lý trí, dường như tác giả muốn 'dứt khoát' với những ảo tưởng lãng mạn kiểu Pau 'Đưa em đi...

Tất cả thế xong rồi
Ta đã lớn.


Và Pauxtôpxky đã chết!' Nhưng cả bài thơ tỏ ra rằng, tác giả sẽ còn luyến nhớ lâu lắm, có lẽ là mãi mãi, 'cái thời lãng mạn' ấy.

'Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ/ Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu...'. Nghe nói, nhờ bài thơ này và nhiều bài thơ dịch của Onga Bécgôn mà Bằng Việt trở thành thần tượng của cánh sinh viên khoa văn các trường đại học một thời. Những câu thơ chấm phá rất 'sương khói', sự hiểu biết và đồng cảm về một chân trời văn học đương có sức hấp dẫn lớn, giọng thơ là lạ và mới vào thời điểm ấy (1969) là những nguyên nhân khiến bài thơ neo được vào tâm trí bạn đọc. Cần nói thêm về giọng thơ: Bằng Việt có cái kiểu dàn trải rất 'Bằng Việt', ở người khác thì có thể là một nhược điểm nhưng ở anh thì lại tạo ra một cái duyên riêng. Cái giọng ấy có từ bài thơ nổi tiếng 'Trở lại trái tim mình' (1967), Bằng Việt tự nhận là 'viết theo giọng Nêruđa'. Từ cái tứ rất bình thường, trở lại với Thủ đô là 'trở lại trái tim mình', Bằng Việt đã có những câu thơ, đoạn thơ rất giàu hình ảnh, tinh tế, một nhạc điệu tha thiết tuy chưa đến mức nồng nhiệt nhưng chân thành, nhờ thế bài thơ đã đứng được với năm tháng. Anh còn một số bài khác thành công theo kiểu này nhưng cũng không ít bài sự dài dòng, nhiều lời khi cảm xúc không đủ độ chín khiến bạn đọc hờ hững. Tôi có thiện cảm với thơ lục bát của Bằng Việt. Thật ngạc nhiên là một cây bút 'Tây' như thế lại có thể vận dụng thể thơ dân tộc rất nhuần nhị. Đó là 'Truông nhà Hồ', 'Cuối năm',

'Về Huế đêm rằm'... nhất là 'Về Hương Sơn năm sơ tán ấy' (1974) và 'Lục bát cầu may' (2000). Lục bát của Bằng Việt viết thoải mái, cứ như là phóng bút viết chơi, không kỳ khu chặt chẽ quá cả về cấu tứ lẫn vần điệu, không đẩy tâm trạng đến mức độ đau đớn, cực đoan mà chỉ bàng bạc, khơi gợi 'Lanh tanh vẫn nước lòng khe/ Ngẩn ngơ chim núi se se dặm rừng'; hoặc 'Nếu em là kiếp bềnh bồng/ Thì tôi vĩnh viễn phải lòng phù du/ Nếu em khoát mở sa mù/ Thì tôi vĩnh viễn hóa bờ bến xa'... Phải chăng tâm hồn phóng túng mang đậm dấu vết của văn hóa Nga được dồn nén trong 'khuôn phép' của thể thơ cổ truyền Việt Nam đã làm nên phong vị riêng cho lục bát của Bằng Việt?

Trong 'thế hệ sáu mươi', 'thế hệ Trường Sơn' trên văn đàn, Bằng Việt có vị trí khá ổn định và vững chắc. Tập thơ mới nhất 'Ném câu thơ vào gió' (2000) chứng tỏ sức sáng tạo của anh còn dồi dào. Có được một tiểu sử văn học phong phú như anh không phải là điều dễ dàng.

5/1/2002
Nguyễn Hoàng Sơn
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:37 AM
Tác giả Cao Xuân Tứ :

   
 
 Lương Sơn Thi Đàn Thơ Mới »» Cao Xuân Tứ
 .Tiểu sử tác giả  
.Tiểu sử tác giả

 
Sinh năm 1943 tại Huế, học tại trường Quốc Học.
Du học ở Mỹ 1960-1965.
Làm việc ngành ngoại giao VNCH 1965-1975.
Từ 1975 sinh sống ở Amsterdam, Hòa Lan.
Ba bài thơ đầu tiên được đăng trên cùng một số của tạp chí Văn (Sài Gòn) năm 1965 với lời giới thiệu của Nguyễn Đình Toàn.
Hai bài thơ mới nhất vừa đăng trên liên mạng Văn Học Nghê Thuật (Mỹ) số tháng 10, 2003.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:38 AM
Tác giả Cao Đồng Khánh [/u]

 Tên thật Cao Đông Khánh
Sinh năm: 1941 tại An Phú Ðông Gia Ðịnh

Du học tại Hoa Kỳ năm 1966-1971
Vượt biển đến Mã Lai tháng 6-1979
Đinh cư tại Hoa Kỳ từ cuối năm 1979
Là cây bút của nhiều tạp chí hải ngoại - từng chủ trương Echo of VietNam cho đài KQED San Fransico năm 1969 - từng ngồi tù của cộng sản VN nhiều năm...

Mất lúc 10 giờ 30 ngày 12 tháng 12 năm 2000 vì tai biến mạch máu não.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:40 AM
Tác giả Chế Lan Viên : [/u]

 Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920, quê ở Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành Chung thì thôi học, đi dạy tư.
Chế Lan Viên bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi; đến năm 17 thì xuất bản tập thơ đầu tay Điêu Tàn mà lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn".
Sau 1954, Chế Lan Viên nằm trong Ban lãnh đạo Hội Nhà Văn Việt Nam, là đại biểu Quốc hội, viết nhiều thơ, bút ký, tùy bút, tiểu luận văn học. Sau 1975, ông vào Sài Gòn, ở quận Tân Bình, mất tại đấy ngày 19 tháng 6 năm 1989.
Tác phẩm tiêu biểu: tập văn xuôi Vàng Sao (1942), các tập thơ Điêu Tàn (1937), Gửi Các Anh (1954), Ánh Sáng và Phù Sa (1960), Hoa Ngày Thường -- Chim Báo Bão (1967), Hoa Trên Đá (1984)...
Người ta thường biết Chế Lan Viên qua tập thơ Điêu Tàn, một trong những tác phẩm nổi bật trong thi đàn tiền chiến. Đọc Điêu Tàn là bước vào một thế giới ma quỉ, kinh dị, âm u và huyền bí. Tập thơ mượn những lời rên rỉ, khóc than nghẹn ngào, chất chứa bao u uất lẫn căm hờn của một dân tộc bị diệt vong để bộc lộ lòng yêu nước một cách kín đáo.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:42 AM
Tác giả Cung Trầm Tưởng :

Tên thật Cung Thúc Cần. Sinh năm 1932 tại Hà Nội. Vào Sài gòn năm 1949. Du học tại Pháp và Hoa Kỳ. Cựu trung tá không quân VNCH. Tù Cộng Sản 10 năm. Hiện sống tại Saint Paul, Minnesota, USA. Hội viên liên kết của Văn Bút Pháp.

Tác phẩm đã xuất bản :

Tình Ca (Cùng Phạm Duy, Nguyễn Cao Uyên)
Lục Bát Cung Trầm Tưởng (Con Ðuông)
Thám Hiểm Không Gian (dịch, Dziên Hồng)
Lời Viết Hai Tay (thơ 1999)

Chiều thơ Cung Trầm Tưởng

Một buổi giới thiệu hai thi phẩm “Lời Viết Hai Tay” và “Bài Ca Níu Quan Tài” của thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã được nhóm thân hữu của ông tổ chức tại nhà hàng Hoa Biển 2, Saint Paul, ngày 26-8-01, và đã hái gặt được kết quả mĩ mãn.

Khoảng trên 200 người tham dự đã vào ngồi chật phòng ăn của Hoa Biển 2, khiến vài chục người đến chậm đã phải bỏ về. Tổng cộng lại, theo một giới thông thạo, đây là một buổi ra mắt thơ có số người tham dự cao nhất ở Minnesota, thuộc đủ mọi lứa tuổi, từ một cháu bé còn nằm nôi đến một lão phụ 75 tuổi.

Một đặc điểm khác là số các bạn thanh nam nữ đến tham dự là khoảng 60 người, một con số kỉ lục đối với một buổi ra mắt thơ tại Minnesota. Tuyệt đại đa số nhóm trẻ này, tuy đã được giáo dục, đào tạo, tốt nghiệp đại học ở Hoa Kì, nhưng vẫn không quên cái nguồn gốc Việt tộc của mình, được như thế là nhờ sự dạy bảo của các bậc phụ huynh của họ và sự trân quý lẫn lòng yêu mến của bản thân họ đối với truyền thống và nền văn học nghệ thuật Việt Nam.

Họ cảm thấy, như thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã viết trong lời bạt của Bài Ca Níu Quan Tài, khi ông đề cập đến động cơ của phong trào làm thơ của người Việt Nam tại hải ngoại, “làm thơ trong tình huống (lưu vong) này căn bản là để tái lập cho bản thân mình sự toàn vẹn tinh thần đã bị phá vỡ (vì mặc cảm lạ nước lạ cái của thân phận lưu vong), và cũng đồng thời là một phương thức về nguồn tuyệt diệu, vì với việc sử dụng ngôn ngữ thơ Việt Nam, ta có được một con đường về gần nhất với cái tinh hoa của tiếng Việt mà cũng là của hồn Việt Nam”.

Với cái tên “Chiều thơ Cung Trầm Tưởng và những khúc phổ nhạc thơ ông”, buổi thơ nhạc giao duyên này gồm một chương trình biểu diễn phong phú nhưng cô đọng, phản ánh những mốc điểm quan trọng của hành trình thơ ca Cung Trầm Tưởng, gồm khoảng 15.000 câu thơ trải suốt một chiều dài nửa thế kỉ đầy đảo động của lịch sử Việt Nam hiện đại.

Khởi đầu, thi sĩ Mạc Ly Hương, người phối hợp chương trình, nói đến sự chuyển biến từ Tình ca đến Bài ca Níu Quan Tài của mạch thơ Cung Trầm Tưởng. Theo ông, đây là một chuyển cung bậc gắn liền với dòng chảy của lịch sử đất nước, ở đó tình yêu lứa đôi, nhuộm sắc dị chủng của những “Mùa Thu Paris”, “Chưa Bao giờ Buồn Thế” thuở nào, nay trở thành một thứ tụng ca dâng lên những người vợ - người tình Việt Nam tuyệt vời.

Tiếp đến, giáo sư Nguyễn Ngọc Diễm đưa ra những nhận xét tinh tế và độc đáo về hai thi phẩm “Lời Viết Hai Tay” và “Bài Ca Níu Quan Tài”, đặc biệt là sự hoà quyện vào nhau của hai dòng ai vãn và nộ khí ca mà ông đã phát hiện ở hai thi phẩm trên. Theo ông, với sự lồng vào cho thơ mình một kích thước phẫn nộ ắt phải có trước một lịch sử đất nước đầy bạo lực và bất công, Cung Trầm Tưởng đã mở ra cho thi ca Việt Nam một chân trời mới rộng hơn, can dự hơn, quyết liệt hơn và tích cực hơn. Những nhận xét uyên bác này của giáo sư Diễm đã được cử toạ nhiệt liệt hoan nghênh.

Sau phần phát biểu lí thuyết về thơ Cung Trầm Tưởng, chương trình biểu diễn thơ nhạc bắt đầu với bản “Vạn Vạn Lí”, thơ Cung Trầm Tưởng, nhạc Bùi Kim Cương, được cô Hoàng Kim Chi, người điều khiển dàn nhạc Việt Nhạc, viết hoà âm cho năm bè (nam) và phối khí cho một violin, một piano, một guitar, một saxophone (tenor) và một flute. Điệu nhạc được tấu lên trầm bổng, láy luyến, ngân nga, khi chậm khi nhanh, khi âm u huyền mặc, khi sôi bừng ngạo nghễ, phù điêu, hoành tráng, hành ca pha với ballad… Tất cả những chuyển động đa chiều này hoà quyện vào nhau và tỏ ra ứng hợp với cái khí hậu sử thi, bi hùng của nguyên tác thơ, đã được Cung Trầm Tưởng viết ra để vinh tụng những tù hữu đã tuẫn tử trong lao ngục cộng sản. Bản “Vạn Vạn Lí” đã gây xúc động mạnh cho giới cử toạ, được họ vỗ tay nhiệt liệt tán thưởng và yêu cầu hát lại một lần nữa, trước khi bế mạc buổi ra mắt thơ Cung Trầm Tưởng.

Những bản phổ nhạc thơ Cung Trầm Tưởng khác được biểu diễn là những sáng tác nổi tiếng của Phạm Duy, như “Tiễn Em” (thơ: “Chưa Bao Giờ Buồn Thế”), Mùa Thu Paris, Chiều Đông ( thơ: “Khoác Kín”), “Kiếp Sau”, “Bên Ni Bên Nớ” ( thơ: “Tương Phản”), và “Đường Vào Thiên Thu” do Bùi Kim Cương phổ nhạc.

Đình Luân nam tính, tình tứ một cách vững vàng với “Tiễn Em”. Phương Uyên sang quý với “Mùa Thu Paris”, với sự hỗ âm kín đáo mà hữu hiệu của Nguyên Phố, khiến bài nhạc có thêm chiều sâu. Quỳnh Trâm biết ứng xử với những chuyển động tinh tế, khá kiêu kì và giàu ấn tượng của một “Kiếp Sau” mà trước đây chỉ có Thái Thanh và Thái Hiền mới dám đụng tới. Triết Bình da diết, đa năng, gần gũi với cái khí hậu lãng mạn, vừa lí tưởng vừa man mác nhục cảm, khi lạnh như tha ma, khi ấm như căn phòng đôi vợ chồng trẻ của bài “Bên Ni Bên Nớ”. Quang Danh (cũng là giọng giới thiệu rất ấm của toàn ban nhạc Việt Nhạc) tê tái, hoang vắng, trầm mặc, hoài cảm với một “Chiều Đông” trên một vùng tuyết vắng bóng người yêu. Rồi Kiều Hữu Chiến nam trầm, ngân nga, sung thiệm, vương thoảng opera và nhạc nhà thờ, lung linh trữ tình với “Đường Vào Thiên Thu”.

Về diễn ngâm, Ái Trinh tha thiết, truyền cảm với “Bóng Mẹ Chiều Thu” và “Đường Vào Thiên Thu”, được hỗ đệm bởi tiếng đàn tranh trong, giòn, linh hoạt của Hồng Châu.Trước khi trình tấu, mỗi bài nhạc đều có một lời mào đầu (chapeau) do anh Nguyễn Trọng Cảnh viết và do Quang Danh đọc, để tóm lược ý nghĩa và hoàn cảnh của bài thơ được phổ nhạc. Và tất cả những cầm thủ như Quỳnh Trâm (violin), Thủy Tú (piano), Lê Phú (saxophone tenor kiêm flute), Hồng Châu (tranh), Châu Dũng (Guitar) được đặt dưới sự phối khiển của đầu đàn Hoàng Kim Chi, ngoài viết hoà âm và phối khí còn thủ guitar. Trong tay cô, nhạc cụ này đã trở thành linh hồn của nhóm Việt Nhạc, quán xuyến, đa hiệu, vừa dây vừa gõ, điều nhịp cho toàn ban, và tạo thêm âm tầng, âm sắc cho bài nhạc.

Cuối cùng là phần phát biểu của nhà thơ Cung Trầm Tưởng. Sau phần cám ơn cử toạ, ban tổ chức và nhóm Việt Nhạc đã làm cho buổi sinh hoạt văn hoá cộng đồng này được thành công mĩ mãn, ông đề cập đến một mục đích chính của buổi sinh hoạt là vinh danh người phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện đại của lịch sử đất nước.Ông nói, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện đại đã là một chủ đề quan trọng của hai thi phẩm “Lời Viết Hai Tay” và “Bài Ca Níu Quan Tài” của ông. Ngoài là một người vợ thủ tiết chờ chồng (bị cộng sản cách li trong những trại tù hẻo lánh), một người mẹ rất mực chăm thương con cái, tần tảo để chúng có miếng cơm độ nhật, họ còn là một nàng dâu hiếu thảo, như:

Đứng thế làm cha nuôi con dại
Để nhà có nóc lúc chồng xa
Em đứng thay nam tròn chữ hiếu
Thờ cha phải đạo, dưỡng mẹ già


Theo ông, họ còn là “một người tình trọn vẹn tuyệt vời”

Chải gió dầm mưa chưa hết hạ
Vai chồng em thử áo ngừa đông
Cắn chỉ luồn kim may gấp gấp
Vuông khăn còn ấm lệ đưa chồng


Và đây là “tác dụng mầu nhiệm của những lá thư (em) gửi cho chồng”:

Mỗi chữ thư em gầy nét liễu
Anh ôm trên núi, ấp trong khe
Em là lửa ấm đêm đông rét
Trận gió đem mưa giữa hạn hè


Ông nói, “tình yêu lứa đôi thuở nào, với Người em mắt nâu / Tóc vàng sợi nhỏ / Mong em chín đỏ trái sầu, nay khoác một kích thước trữ tình bao la như vũ trụ”:

(Em) Là nắng thu hanh, mây lững thững
Thông reo trầm vút đỉnh trời cao
Em giăng mộc thảo xanh triền núi
Li cách lòng anh khỏi lũ trào


Vẫn với chữ của ông, “Rồi tất cả âm dương kết tụ thành một hạt gạo trắng nõn, biểu tượng của một luyến ái quan tích cực, có khả năng bồi tổn và cứu rỗi thật là kì diệu”:

Biển động thuyền lay em vững lái
Anh thương hạt gạo xẻ làm đôi
Tình nghĩa em như sau bão thổi
Bãi yên bể lặng, cát về bồi
“Bởi vì là đá của tượng, như nàng Tô Thị, em đã đi vào huyền sử ngay lúc sinh thời”:

Phố ấy Đồng Đăng trùng điệp núi
Đá mòn thành tượng của tình chung
Em đứng ôm con, bồng mưa nắng
Sắt son, dũng cảm đến Kì Cùng

Rồi ông kết thúc với một ước nguyện, “để được mãi mãi ở với em, anh sẽ làm một hoá thân”:

Mai sau ngủ gốc cây sồi
Làm thiên thu chiếc miếu ngồi thờ em

Bài phát biểu trên của nhà thơ Cung Trầm Tưởng được cử toạ nhiệt liệt vỗ tay tán thưởng nhiều lần. Sau đó họ yêu cầu ban Việt Nhạc biểu diễn lại các bản “Vạn Vạn Lí”, “Đường Vào Thiên thu”, “Tiễn Em”, và “Mùa Thu Paris”.Về truyền thông đại chúng, có sự tham dự của báo “Ngày Nay”, “Bút Việt”, của “Việt Minnesota Radio” và “Voice of America”.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 03, 2005, 10:45 AM
Tác giả Du Tử Lê :

Tên thật Lê Cự Phách, sinh năm 1942 Bắc Việt.

Tác phẩm đã xuất bản :

Thơ Du Tử Lê (1964)
Năm Sắc Diện Năm Ðịnh Mệnh (1965)
Tình khúc Tháng Mười Một (1966)
Tay Gõ Cửa Ðời (1970)
Chung Cuộc (cùng viết với Mai Thảo)
Mắt Thù (1969)
Ngửa Mặt (1969)
Vốn Liếng Một Ðời (1969)
Qua Hình Bóng Khác (1970)
— Một Ðời Riêng (1972)
Khóc lẻ loi Một Mình (1972)
Chỉ Như Mặt Khác Tấm Gương Soi (thơ 1997)
Thơ Tình (1996)
Tiếng Kêu Nào Bên Kia Thời Tiết (truyện)
em và, mẹ và tôi là một nhé (bán hồi ký)
Chỗ Một Ðời Em Vẫn Ðể Dành
Nhìn Nhau Chợt Thấy Ra Sông Núi
Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra
Ði Và Về Cùng Một Nghĩa Như Nhau
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 07, 2005, 11:29 AM
Tác giả Hà Huyền Chi:


-Hà Huyền Chi tên thật là Đặng Trí Hoàn, sinh năm 1935 tại Hà Đông và trưởng thành tại Hà Nội.

Năm 1954 di cư và Nam một mình.
Năm 1957 nhập ngũ khóa 14 BVQGVN.
Năm 1964 lập gia đình, hiện đã có 5 con trưởng thành.
Năm 1975 đào thoát sang Hoa Kỳ.

Tác phẩm đầu tay: "Sault" Đêm, thơ, 1963.
Đã in 16 tập thơ, 8 truyện dài

trích VHNT Tuyển Tập 2
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 07, 2005, 11:31 AM
Tác giả Hà Nguyên Du:



 
Tuổi Canh Dần. Sinh quán : Tây Ninh
Nguyên ký giả, thuộc nghiệp đoàn ( viết báo)
ký giả VN do Nguyễn Khánh Giư làm chủ tịch
SQTB/ Tác chiến / SQ/ CTCT ...
Làm thơ lúc vừa lên trung học.
Thơ khởi đăng nhiều từ 1968 qua một bút hiệu khác...
Nguyên ( CTNCT )
Sang Hoa Kỳ năm 1990 - H.O 5
Thường đăng thơ trên các tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Hải Ngoại :
Khởi Hành, Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Tạp Chí Thơ, Chủ Ðề, Tinh Hoa, Hương Văn, Văn Phong, Phố Văn, Nguyệt San Nghệ Thuật (Canada.

Tác phẩm đã in:

Trong Mùa Lá Xanh 1970 - thơ (in chung)
Lối Khác 1998 - thơ
Thơ Hà Nguyên Du ( Anh Biết, Em Yêu Dấu ) 2001
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 07, 2005, 11:32 AM
Tác giả Hà Thúc Sinh:

 Ông tên thật Phạm Vĩnh Xuân. Sinh ngày 7-7-1943 tại Thanh Hoá. Di cư vào Nam năm 1954. Sĩ quan. Ông bắt đầu viết từ năm 1964 trên một số tạp chí ấn hành tại Sài Gòn. Sau tháng 5-1975 bị giam giữ hơn năm năm. Ông vượt biển sang Mỹ 30-4-1981.

Ông chủ trương tạp chí văn học nghệ thuật Tân Văn (đình bản sau 8 số vì thiếu thì giờ lẫn tài chính).

Ông cùng Nguyễn Khoa (giám đốc nhà in Kim) thành lập nhà xuất bản Văn Mới tại miền Nam California.

Ông được xếp vào phần Thi Sĩ và Văn Sĩ trên Thư Viện Việt Nam vì ông đã có công đóng góp đáng kể trong cả hai lãnh vực này.

Tác phẩm đã ấn hành gồm 4 thi tập, 6 dịch phẩm văn và sử trước năm 1975. Ở Mỹ, ông ấn hành thêm 2 thi tập, 1 tiểu thuyết, 1 ký sự, 2 dịch phẩm (đăng báo), 1 biên khảo (hợp soạn), 2 album băng (cassette) ca khúc và 4 tập truyện.

Quyển Đại Học Máu của ông được nhiều người Việt hải ngoại lẫn trong nước đọc.

Tác phẩm đã xuất bản:

Trí Nhớ Ðau Thương (thơ 1967)
Ðá Vàng (thơ 1069)
Tuyển Tập truyện Âu Châu (dịch 1970)
Ðiệu Buồn Chúng Ta (thơ 1972)
Dạo Núi Mình Ta (thơ 1972 tb 1973)
Tình Em Vỗ Cánh (dịch 1973)
Nàng Nô Lệ (dịch 1973)
Trận Chiến Trong Thành Phố (dịch 1973)
Cát Bụi Trần Gian (dịch 1974)
Kiếp Người Cô Quạnh (dịch 1974)
Ðại Học Máu (hồi ký 1985)
Vầng Thái Quê Nhà (dịch1988)
Thơ Viết Giữa Ðường (thơ 1988)
Chị Em (truyện dài 1988)
Ông H.O (truyện 1993)
Cố Hương (truyện 1994)
Dưa Cà Mắm Muối (truyện 1996)
Về (truyện 1966)
Ðêm Hè (truyện 1997)
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 07, 2005, 11:34 AM
Tác giả hà Nguyên Dũng :

Tên thật Nguyễn Dũng, sinh năm 1946 tại Hà Mật Ðiện Bàn Quảng Nam. Khởi viết từ 1964 với bút hiệu Hà Mật Thương. Hiện cư ngụ tại Sài gòn Việt Nam

Tác phẩm đã xuất bản:

Quê Tình (thơ 1992)
Hột Muối Bỏ Sông (thơ 1996)
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 07, 2005, 11:42 AM
Tác giả Hàn Mặc Tử :


Hàn Mạc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí. Sinh ngày 22-9-1912 ở Lệ Mĩ (Đồng Hới), mất ngày 11-11-1940, trú ngụ ở Qui Nhơn từ nhỏ. Nhà nghèo, cha mất sớm. Học trường Qui Nhơn đến năm thứ ba. Làm sở Đạc điền một độ, bị đau rồi mất việc. Vào Nam làm báo ít lâu lại trở về Qui Hoà. Kế đó mắc bệnh hủi, đưa vào nhà thương Qui Hoà rồi mất ở đó.
Làm thơ từ ngày mười sáu tuổi (Lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thành. Đến năm 1936 khi chủ trương báo Sài Gòn mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử.
Đã đăng thơ: Phụ nữ tân văn SaiGon, Trong khuê phòng, Đông Dương tuần báo, Người mới.
Đã xuất bản: Gái quê (1936).
Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mạc Tử nhiều lắm. Có người bảo:"Hàn Mạc Tử, Thơ với thẩn gì! Toàn nói nhảm" . Có người còn nghiêm khắc hơn nữa: "Thơ gì mà rắc rối thế! M ình tưởng có ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình!" Xuân Diệu có lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mạc Tử trong khi viết đoạn này: "Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây! Tôi điên đây!- Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống".
Nhưng tôi cũng đã nghe những người ca tụng Hàn Mạc Tử. Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mạc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mạc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mạc Tử đâu có phải chuyện dễ.
Đã khúc mắc mà lại nhiều: tất cả đến sáu bảy tập. Họ thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng họ sẽ cao giọng ngâm một mình. Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vị giáo chủ. Chế Lan Viên nói quả quyết:
"Tôi xin hưa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ tan biến đi, và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử".
Ngót một tháng trời tôi đã đọc thơ Hàn Mạc Tử. Tôi đã theo Hàn Mạc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ Quần Tiên Hội. Và tôi đã mệt lả. Chính như Hàn Mạc Tử nói trong bài tựa Thơ điên, vườn thơ của người rung rinh không bờ bến càng đi xa càng ớn lạnh.
Bây giờ đã ra khỏi cái thế giới kỳ dị ấy và đã trở về với cuộc đời tầm thường mà ý nhị, tôi thử xếp đặt lại những cảm tượng hỗn độn của tôi.

Thơ Đường Luật: - Theo ông Quách Tấn, Phan Sào Nam hồi trước xem thơ Đường luật Hàn Mạc Tử có viết trên báo đại khái nói: "Từ về nước đến nay, tôi được xem thơ quốc âm cũng khá nhiều, song chưa gặp bài nào hay đến thế... Ôi hồng nam nhạc bắc, ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười lên một tiếng lớnlà thoả hồn thơ đó". Thơ Đường luật Hàn Mạc Tử làm ra nhiều nhưng bị thất lạc gần hết, tôi không được xem mấy bài. Song trong những bài tôi được xem, tôi cũng đã gặp ít câu hay, chẳng hạn như:


Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngầm tràn cho đỡ chút buồn thôi.



Dầu sao tôi vẫn nghĩ cái khuôn khổ bó buộc của luật Đường có lẽ không tiện nẩy nở một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng như nguồn thơ Hàn Mạc Tử.

Gái Quê: - Nhiều bài có thể là của ai cũng được. Còn thì tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị. Nhưng tình ở đây không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông. Ấy là một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi. Ông Phạm Vằn Kỳ đề tựa tập thơ ấy là phải lắm; Gái quê, và Une voix sur la voie đều bắt nguồn trong tình dục.

Thơ Điên: - Thơ điên gồm có ba tập

1. Hương thơm
2. Mật đắng
3- Máu cuồng và hồn điên

Hương Thơm:- Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói. Một trời tình ái mới dựng lên đâu đây. Tuy có đôi vần đẹp, cảm giác chung nhạt tẻ thế nào.

Mật Đắng:- Ta vẫn đi trong mờ mờ. Nhưng thỉnh thoảng một luồng sáng lạ chói cả mắt. Nguồn sáng toả ra từ một linh hồn vô cùng khổ não. Ta bắt gặp dấu còn hoi hóp của một tình duyên vừa chết yểu. Thất vọng trong tình yêu, chuyện ấy trong thơ ta không thiếu gì, nhưng thường là một thứ buồn rầu có thấm vẫn dịu đi. Chỉ trong thơ Hàn Mạc Tử mới thấy một nỗi đau thương mãnh liệt như thế. Lời thơ như dính máu.

Máu Cuồng Và Hồn Điên: - Đến đây ta đã hoàn toàn ra khỏi cái thế giới thực và cả thế giới mộng của ta. Xa lắm rồi. Ta thấy nhữnng gì chung quanh ta? Trăng, toàn trăng, một ánh trăng gắt gao, ghê tởm linh động như một người hay đúng hơn như một yêu tinh, và cũng nao nức dục tình. Hàn Mạc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra và rú lên những tiếng ghê người... Ta rùng mình, ngơ ngác, ta đã lục lọi khắp trong đáy lòng ta, ta không thấy có tí gì giống cái cảnh trước mắt. Trời đấy này thực của riêng Hàn Mạc Tử ta không hiểu được và chắc cũng không bao giờ ai hiểu được. Nghĩ thế ta bỗng thương con người cô đọc. Đã cô độc ở kiếp này và e còn cô độc đến muôn kiếp. Hàn Mạc Tử chắc cũng biết thế nên lúc sinh thời người có thể nói hay hay dở, nó đã ra ngoài vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn. Ta chỉ biết ta đang đứng trước một người sượng sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình yêu. Cuộc tình duyên ra đời với tập Hương thơm, hấp hối với Mật đắng, đến đây thì đã chết thiệt rồi, nhưng khí lạnh còn toả lên nghi ngút.
Một nhà chuyên môn nghiên cứu những trạng thái kỳ dị của tâm linh người ta xem tập Máu cuồn và Hồn điên có lẽ sẽ lượm được nhiều tài liệu hơn một nhà phê bình văn nghệ. Tuy thế, đây đó ta gặp những câu rất hay.
Như tả cảnh đồi một đêm trăng có câu:

Ngả nghiên đồi cao bọc trăng ngủ
Đầy mình lốm đốm những hào quang.



Lên chơi trăng có câu:

Ta bay lên! Ta bay lên.
Gió tiễn đưa ta tới nguyệt thiềm
Ta ở cõi cao nhìn trở xuống
Lâng lâng mây khói quyện trăng đêm.


Đọc những câu ấy có cái thú vị ở xứ lạ gặp người quen, vì đó là những cảm giác ta có thể có. Lạc có khi những cảm giác ở ta rất thường mà trong trí Hàn Mạc Tử rất dễ sợ. Một đám mây in hình dưới dòng nước thành ra:

Mây chết đuối ở dòng sông vắng lặng
Trôi thây về xa tận cõi vô biên.



Cái ý muốn mượn lời thơ để tả tâm sự mình cũng trở nên điên cuồng và đau đớn dị thường:

Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút;
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta.
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt,
Như mê man chết điếng cả làn da.
Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết,
Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh;
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết
Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh.


Tôi chỉ trích ra vài đoạn có thể thích được. Còn bao nhiêu đoạn nữa tuy ta không thích vì nó không có gì phù hợp với lòng ta nhưng ta cũng biết rằng với Hàn Mạc Tử hẳn là những câu tuyệt diệu. Nó đã tả đúng tâm trạng của tác giả. Lời thơ có vẻ thành thực, thiết tha lắm:

Xuân Như Ý: - Mùa xuân Hàn Mạc Tử nói đây có khi ở đâu hồi trời đất mới dựng lên, có khi ra đời một lần với Chúa Jesus, có khi hình như chỉ là mùa xuân đầu năm. Nhưng dầu sao cũng không phải là một mùa xuân thường với những màu sắc những hình dáng ta vẫn quen biết. Đây là một mùa xuân trong tưởng tượng, một mùa xuân theo ý muốn của thi nhân, đầy rẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Nhất là ánh thơ. Với Hàn Mạc Tử thơ có một sự quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế mà cũng để nói người ta với Thượng Đế, để ban phước cho cả thiên hạ. Cho nên mỗi lần thi sĩ há miệng - sao lạ há miệng? - Cho thơ trào ra, là chín từng mây náo động, muôn vì tinh tú xôn xao. Người ta sẽ thấy:

Đường thơ bay sáng láng như sao sa
Trên lụa trắng mười hai hàng chữ ngọc
Thêu như rồng phượng kết tinh hoa.



Hình như trong các thi phẩm xưa nay có tính cách tôn giáo không có gì giống như vậy. Hàn Mạc Tử đã dựng riêng một ngôi đền để thờ Chúa. Thiếu lòng tin, tôi chỉ là một du khách bỡ ngỡ không thể cùng quỳ lạy với thi nhân. Nhưng lòng tôi có dửng dưng, trí tôi làm sao không ngợp cái vẻ huy hoàng, trang trọng, lung linh, huyền ảo của lâu đài kia? Có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như tưới vào hồn một nguồng sáng láng. Xuân như ý rõ ràng là tập thơ hay nhất của Hàn Mạc Tử.
Với Hàn Mạc Tử Chúa gần lắm. Người đã tìm lại những rung cảm mạnh mẽ của các tín đồ đời Thượng cổ. Ta thấy phảng phất cái không khí Athalic. Cho nên mặc dầu thỉnh thoảng còn sót lại một hai dấu tích Phật giáo, chắc những người đồng đạo chẳng vì thế mà khó dễ chi với di thảo của thi nhân.
Huống chi thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể.

Thượng Thanh Khí: - Một vài bài đặc sắc ghi lại những cảnh đã thấy trong chiêm bao, ở đâu giữa khoảng các vì tinh tú trên kia. Đại khái không khác cảnh Xuân như ý mấy, chỉ thiếu tính cách tôn giáo, huyền bí nhưng không thiêng liên.

Cẩm Châu Duyên: - Một hai năm trước khi mất, sự tình cờ đưa đến trong đời Hàn Mạc Tử hình ảnh một giai nhân có cái tên khả ái: nàng Thương Thương. Nàng có lẽ chỉ yêu thơ Hàn Mạc Tử và Hàn Mạc Tử hình như cũng không biết gì hơn hai chữ Thương Thương. Nhưng như thế cũng đã đủ để thi nhân đưa nàng vào "Tháp thơ". Nàng sẽ luôn luôn đi về trong những giấc mơ của người. Có khi người mơ thấy mình là Tư Mã Tương Như đương nghe lời Trác Văn Quân năn nỉ:

Đã mê rồi! Tư Mã chàng ôi!
Người thiếp lao đao sượng cả người.
Ôi! Ôi! Hãm bớt cung cầm lại
Lòng say đôi má cũng say thôi.



Song những phút mơ khoái lạc đó có bao lâu. Tỉnh dậy, người thấy:

Sao trìu mến thân yên đâu vắng cả?
Trơ vơ buồn và không biết kêu ai!
Bức thư kia sao chẳng viết cho dài,
Cho khắng khít nồng nàn thêm chút nữa.



Ta tưởng nghe lời than của Huy Cận.
Nhưng cuộc đời đau thương kia đã đến lúc tàn, và nguồn thơ kia cũng đã đến lúc cạn, Hàn Mạc Tử chốc chốc lại ra ngoài biên giới thơ, lạc vào thế giới đồng bóng.
Duyên Kỳ Ngộ Và Quần Tiên Hội: - Mối tình đối với nàng Thương Thương còn khiến Hàn Mạc Tử viết ra hai vở kịch bằng thơ này nữa. Quần tiên hội viết chưa xong và không có gì. Duyên kỳ ngộ hay hơn nhiều. Đây là một giấc mơ tình ái, ngắn ngủi nhưng xinh tươi, đặt vào một khung cảnh tuyệt diệu. Thi nhân dẫn ta đến một chốn nước non thanh sạch chưa từng in dấu chân người. Ở đó tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng tiêu ngân đều biến thành những lời thơ tình tứ. Ở đó Hàn Mã Tử sẽ gặp nàng Thương Thương mà người không mong được gặp ở kiếp này, nàng sẽ nói với người những lời nồng nàn âu yến khiến chim nước say sưa. Nhưng rồi người sẽ cùng tiếng tiêu đi giữa lúc nàng gục đầu khóc, cảnh tiên lại rộn rã tiếng suối ca.
Trong thi phẩm Hàn Mạc Tử có lẽ tập nàng là trong trẻo hơn cả. Còn từ thơ Đường luật với những câu thơ:

Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối;
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.



Cho đến Gái quê, Thơ điên, Xuân như ý và các tập khác, lời thơ thường vẫn đục.

*
* *

Tôi đã nói hết cảm tưởng của tôi trong lúc đọc thơ Hàn Mạc Tử. Không có bao giờ tôi thấy cái việc phê bình thơ tàn ác như lúc này. Tôi nghĩ đến người đã sống trong một túp lều tranh phải lấy bì thư và giấy nhựa che mái nhà cho đỡ dột. Mỗi bữa cơm đưa đến người không sao nuốt được vì ăn khổ quá. Cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng đã bắt người chịu bao n hiêu phũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy. Sau cùng người bị vứt hẳn ra ngoài cuộc đời, bị giữ riêng một nơi, xa hết thảy mọi người thân thích. Tôi nghĩ đến bao nhiêu năm người bó tay nhìn cả thể phách lẫn linh hồn tan rã...
Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hững hờ bỏ quên bây giờ mất rồi ta xúm lại kẻ chê người khen. Chê hay khen tôi đều thấy có gì bất nhẫn.


[div align=\\\"right\\\"]Trích từ Thi Nhân Việt Nam
[/div]
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 07, 2005, 11:44 AM
Tác giả Hạt Cát:

Hạt Cát là bút hiệu của một nhà thơ trẻ. Thơ sáng tác bằng chữ Hán, rồi chính thi nhân dịch sang lời Việt; đôi khi sáng tác thơ tiếng Việt, rồi dịch sang Hán văn. Lời thơ già giặn, chững chạc; ý thơ thâm trầm, tiêu sái; nghe như tiếng ngâm vừa sảng khoái vừa buồn buồn thế nào ấy của một đạo nhân xa lánh trần tục... Vui thích với chọn lựa thong dong của mình nhưng thoạt khi lòng cũng chùng xuống trong một nỗi cô đơn thấm thía.

Từ tình yêu đến phong thái nhìn đời, thơ Hạt Cát quả là sự biểu hiện thanh cao hiếm hoi còn sót lại giữa cuộc sống xô bồ, phiền tạp và tất bật của thế giới hôm nay.

Vĩnh Hão  
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on September 18, 2005, 07:38 PM
Tiểu sử tác giả Hồ Dzếnh :

 
Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh (Hồ Dzếnh là phiên âm của Hà Anh theo giọng Quảng Đông).

Ông sinh năm 1916 tại làng Đông Bích huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa. Cha là người Quảng Đông, sang sinh sống ở Việt Nam từ khoảng 1890, mẹ là người Việt.

Hồ Dzếnh ra Hà Nội học trung học, dạy tư, viết thơ, viết báo từ năm 1931. Năm 1953 vào Sài Gòn làm báo, năm 1954 trở về Hà Nội viết báo, làm thơ.

Ông mất ngày 13 tháng 8 năm 1991 tại Hà Nội.

Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Quê Ngoại (1942), Hoa Xuân Đất Việt (1946); tập truyện ngắn Chân Trời Cũ (1942); và các tiểu thuyết Một Truyện Tình 15 Năm Về Trước (1942); Những Vành Khăn Trắng (1946).

Sự pha trộn của hai giòng máu chi phối nhiều sáng tác của tác giả. Tập thơ Quê Ngoại gây được nhiều ấn tượng nhất với những lời thơ êm đềm, nhẹ nhàng, trong sáng, và những cảm xúc đằm thắm chân thành dành riêng cho "quê ngoại" thân thương.

Tài liệu tham khảo

Quê Ngoại, Hồ Dzếnh, NXB Hội Nhà Văn tái bản, 1995.
Hồ Dzếnh. Tác Phẩm Chọn Lọc, NXB Văn Học, Hà Nội, 1988.
Tổng Tập Văn Học Việt Nam, tập 27, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1990.
Chân Trời Cũ, Hồ Dzếnh
Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, Nguyễn Tấn Long & Nguyễn Hữu Trọng
Thi Ca Việt Nam Hiện Đại, Trần Tuấn Kiệt
Tuyển Tập Thơ Tiền Chiến, Hoài Việt biên soạn
Thơ Mới - Những Bước Thăng Trầm, Lê Đình Kỵ

Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương
Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương
Tha thướt liễu in hồ gợn bóng
Hững hờ mai thoảng gió đưa hương
Xa người nhớ cảnh tình lai láng
Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
Qua lại yến ngàn dâu ủ lá
Hòa đàn sẵn có dế bên tường.  
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: cheer_up1979 on September 19, 2005, 02:24 PM
Trần Tế Xương


Trần Tế Xương (1871 - 1907) tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương.

Ông sinh ngày 10-8-1871 tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Ðịnh và mất ngày 20-1-1907 ở làng Ðịa Tứ cùng huyện.

Tú Xương là một người rất thông minh, tính tình thích trào lộng. Có nhiều giai thoại kể về cá tính của ông.

Cuộc đời Tú Xương lận đận về thi cử. Tám khoa đều hỏng nên dấu ấn thi rớt in đậm nét trong tiềm thức Tú Xương.

Ông cưới vợ rất sớm. Phạm Thị Mẫn là một cô gái quê con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ. Tiếng có miếng không, gặp hay chăng chớ trở thành bà Tú tần tảo một nắng hai sương, quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng. Ông Tú vẫn có thể có tiền để ăn chơi nhưng gia cảnh nghèo túng, việc nhà trông cậy vào một tay bà Tú.

Có thể nói, việc hỏng thi và cảnh nghèo của gia đình là nguồn đề tài phong phú trong sáng tác của Tú Xương.

Tú Xương sáng tác rất nhiều và thất lạc cũng nhiều. Ông viết khoảng 151 bài thơ bằng chữ Nôm với đủ các thể loại. Ngoài ra, ông có dịch một số thơ Ðường.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on March 26, 2006, 03:56 PM
Tiểu sử tác giả Hữu Thỉnh

 
Hữu Thỉnh sinh năm 1942 tại làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, Tam Đảo, Vĩnh Phúc - làng quê còn in đậm trong suốt đời thơ của anh, một người lính.

Trong thơ Hữu Thỉnh hiện lên ba nhân vật trữ tình chủ chốt:

- Người lính cách mạng mà tình yêu nước rất cụ thể trong tình yêu thương rất mực quê hương, đồng đất. Và trong những người thương yêu nhất nổi bật lên, luôn sâu sắc day dứt khôn cùng là hình ảnh người mẹ. Trong những bài thơ xúc động nhất về chiến tranh hình ảnh mẹ luôn trở đi trở lại như một điểm thức sáng, đọng lại nơi những câu thơ hay nhất. Hình ảnh người vợ, người yêu trong trái tim thổn thức người lính gắn liền với những đợi chờ, chịu đựng, hy sinh cả một thời xuân sắc. Trong trái tim nhân vật trữ tình người lính còn nhói lên da diết một tình yêu đồng đội, không chỉ sẻ chia đùm bọc mà còn cả một nghĩa ân xương máu, một tình cảm đặc biệt sâu đằm chỉ có được trong sống chết chiến trường. Nét khác biệt, nổi trội hơn so với nhân vật trữ tình người lính thời kỳ thơ 1945- 1954 là độ sâu đằm văn hóa. Ở chiều sâu tình yêu dành cho những đối tượng thân gần nhất vừa kể trên, người lính trong thơ Hữu Thỉnh luôn suy nghĩ, phát hiện và tổng kết thành những chân lý đắt giá, những bài học đắp bồi cho nhân cách, cho bản lĩnh sống. Ta có thể tìm hiểu những khía cạnh trên trong một số bài thơ ngắn được viết trước và sau 30- 4- 1975, đặc biệt trong trường ca "Đường tới thành phố" và "Trường ca biển".

- Người bảo toàn và đấu tranh phát triển nhân cách. Rải rác qua nhiều bài, nhưng đậm đặc nhất ở tập "Thư mùa đông" đã nổi lên dáng dấp ưu trầm của nhân vật này. Khi môi trường xã hội có những biến động, cùng với vận động đi lên, đổi mới về kinh tế, mở rộng tầm nhìn, cởi mở lối sống... những rạn vỡ, suy đồi nhân cách cũng được dịp bùng phát. Nhân vật trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh âu lo, khá nhiều phen trầm xuống thở dài. Không ít lần con người ấy bật lên những câu hỏi bức thiết nhất về Con Người, anh cảnh báo về nguy cơ " mất mùa nhân nghĩa ", anh nhìn thẳng, không ảo tưởng về con đường đi tới đầy khuất khúc, anh giơ lên thật cao cho mọi người cùng thấy rõ những tỷ lệ đáng lo âu trên thước đo tình bạn, tình người... Nhân vật trữ tình này của Hữu Thỉnh cứ ngày càng từng trải qua bao nhiêu xung sát, nhận chịu những vết thương nặng nề trong trái tim. Nhưng anh kiên quyết bảo toàn và đấu tranh không lùi bước cho sự nâng cao nhân cách.

- Nhà thơ của một thế hệ. Xuyên qua tất cả các bài thơ, các cảnh ngộ của đất nước, thế giới, con người, nhân vật trữ tình này luôn suy nghĩ về ý nghĩa, trách nhiệm vô cùng thiêng liêng, hệ trọng của thơ, của nhà thơ thuộc thế hệ anh. Không phải bằng thuyết lý đại ngôn, những suy nghĩ của nhân vật trữ tình nhà thơ ở đây được lọc chắt ra từ những mất còn cụ thể quyết liệt, từ một cuộc chiến tranh cụ thể không ngừng, dù còn hay đã tắt tiếng súng. Nhằm vinh danh thơ trong sứ mạng tối thượng bảo vệ cuộc sống, bảo vệ con người.

Tách ra như trên để tìm hiểu chi tiết hóa, thực ra ba nhân vật trữ tình ấy trộn hòa, xoắn bện, hiển hiện chỉ trong duy nhất một con người - nhà thơ, người lính, người công dân Việt Nam Hữu Thỉnh.


***
Khi dạt dào nồng nhiệt, khi rủ rỉ dịu êm, lúc trầm xuống nghẹn ngào, lúc vút đanh sắc nhọn... những cung bậc khác nhau trong thơ Hữu Thỉnh vẫn tựa trên một âm giai bao trùm là chất giọng đằm thắm. Trong nền giọng đằm thắm ấy, qua thời gian đầy bão động một phần tư thế kỷ có luyện vào chất nén trầm, nhưng thật đáng quý, vẫn giữ được, vẫn nhô trào lên những con sóng thảng thốt. Thảng thốt, luôn thảng thốt, luôn luôn phát giác trước thế giới, trong con người mình như thể niềm kinh ngạc lần đầu. Đó là phẩm chất thi sĩ,phẩm chất một nghệ, sĩ luôn luôn say mê đời sống.

Trừ một số dôi dài chưa thật kết đọng ở buổi đầu sáng tác, sự trải dàn đôi khi vẫn trở lại quá đà - vi phạm đến tính chỉnh thể của một sản phẩm nghệ thuật thời hiện đại, ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh - ở những bài hay và xuất sắc - đã đạt tới hiệu quả nhuần nhụy cổ điển. Những câu thơ, áng thơ ấy vào ngọt thưởng thức khe khắt của bạn đọc. Chất liệu văn hóa dân tộc dân gian ngàn năm đã thấm dưỡng linh hồn những câu thơ, chữ thơ. Những mảng dữ dội của đời sống thật, sự khỏe sáng của thể trọng tâm hồn con người tham gia trực tiếp vào đời sống ấy đã bồi đắp nên chất hiện đại cho những dòng thơ mềm mại. Giữ vững và làm tươi mới hơn câu thơ Việt trong cuộc vật mình đổi mới ngôn ngữ thơ đang dần dà mà quyết liệt diễn ra trong toàn bộ nền thơ ta, đó là đóng góp đáng tôn trọng của thế hệ nhà thơ chống Mỹ mà Hữu Thỉnh là một trong số đại biểu xứng đáng nhất.


[div align=\\\"right\\\"]HÀ NỘI 31- 10- 2001
TRÚC THÔNG[/div]
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Nuage on March 30, 2006, 05:48 PM
Anh Pintu ơi, Xuân Quỳnh đi , anh có thông tin nào không? em sắp phải làm một bài kiểm tra về XQ mà. Có thêm chút thông tin gì đi. Thank anh trước. Dạo nì nhờ vả anh về thơ hơi nhiều
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on March 31, 2006, 05:48 PM
Huhuhu,anh nào biết jì đâu , tìm trên net thôi. Mày đừng nhờ vả anh quá kẻo anh tính công lấy tiền .  


Xuân Quỳnh[/b][/color]



Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942 tại xã La Khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Sơn Bình, trong một giai đình công chức. Thuở nhỏ, mồ côi mẹ từ sớm, ở với bà nộị

Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ tiêu biêu của thế hệ nhà thơ sinh ở thập kỉ 40 và "rỡ ràng" với những tác phẩm thơ "trẻ" ở thập kỷ 60.

Cũng giống như hầu hết các nữ sĩ Đông Tây Kim Cổ, Xuân Quỳnh làm thơ cốt để diễn tả cuộc sống của chính mình về tất cả mọi phương diện: những khát khao, những tình cảm, những suy nghĩ, và "sự sống" của một người phụ nữ. Vì lẽ đó hầu hết thơ của chị đều là thơ chữ tình. Đất nước, thiên nhiên, thời đại đều được phản ánh vào thơ chị thông qua cái lăng kính chữ tình đó.

Chị đã định hướng dứt khoát cho con đường sự nghiệp của mình: đó là nghiệp thợ Chị quyết định chấm dứt một cuộc hôn nhân mà chị biết là mình đã sai lạc để xây dựng tình yêu và hôn nhân với "chú đại bàng non trẻ" Lưu Quang Vũ mà chị biết chắc trong đó có tình yêu và hạnh phúc đích thực.

Chẳng dại gì em ước nó bằng vàng
Trái tim em, anh đã từng biết đấy
Anh là người coi thường của cải
Nên nếu cần, anh bán nó đi ngaỵ..

(Tự hát).

Với những dòng thơ sau đây, Xuân Quỳnh thổ lộ tâm tư nhưng chính là để tự khẳng định mình trước một người chồng mà chị biết anh ta vốn không phải là hạng "gà mờ"

Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Biết khao khát những điều anh mơ ước.
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết được anh yêụ


Ai quen biết Xuân Quỳnh, hẳn sẽ để ý đến nét khác lạ nơi tay chị: một đôi bàn tay như già hơn khá nhiều so với gương mặt. Một gương mạt xinh đẹp, trẻ hơn tuổi, với cặp mắt tinh anh, duyên dáng, như rất dễ mỉm cười, che hết mọi phiền lọ Gương mặt phụ nữ đẹp đến nỗi khó tin đấy lại là người làm thợ Mà người phụ nữ đẹp và làm thơ ấy lại có đôi bàn tay giống như gương mặt Trương Chi! Chính Xuân Quỳnh đã không ít lần viết về bàn tay mình, ví dụ mấy câu này trong giọng dãi bày với người yêu:

Bàn tay em ngón chẳng thon dài
Vệt chai cũ, đường gân xanh vất vả
Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ
Hái rau dền rau dệu nấu canh
Tập vá may, tết tóc cho mình
Rồi úp mặt trên bàn tay khóc mẹ


Đôi bàn tay tiết lộ số phận. Một số phận đã từng không may mắn, dường như luôn luôn phải "đánh đu" với cuộc sống, với hạnh phúc. Cũng là trớ trêu chăng, con người có số phận như thế lại mang trong mình nhiều khao khát. Trong một bài thơ viết năm 1962, Xuân Quỳnh viết rằng ngày bé mình chỉ mơ đến rằm tháng tám để được vui chơi với bạn bè dưới trăng thụ "Khi lớn khôn ước mơ cùng cháy bỏng": mơ ước "thành nhà thơ ca ngợi cuộc đời", đưa thơ cùng du hành vũ trụ, sưởi ấm vùng trăng lạnh, đưa thơ đi cập bến các vì saọ.. "Như lòng ta chẳng bao giờ nguôi khát vọng - Biết bay rồi ta lại muốn bay cao".

Giàu trí tuệ, nên cũng như Hồ Xuân Hương xưa kia, Xuân Quỳnh đã đóng vai trò tham mưu đắc lực, đã san sẻ "cái khôn" cho chị em cùng giới, để đối đáp và xử sự với phái mày râu:

Những cái chính chúng ta thường chả nói
Mà bọn con gái mình hay nói xấu nhau
Bọn con trai nghe lỏm đôi câụ..
Họ khinh chúng ta và lời cửa miệng:
"Chuyện đàn bà"

Ta yêu người con trai không phải vì mình
Mà họ yêu ta vì họ yêu chính họ
Được yêu hai lần, họ cao lên một bậc
Ta không được yêu cảm thấy thấp dần đi
Vì chính ra cũng chẳng yêu tạ.."

(Thơ viết cho mình và những người con gái khác)

Xuân Quỳnh nhận thức được tính bi kịch vĩnh cửu của cuộc sống: đó là sự ngắn ngủi của đời ngườị Hình như chị còn tiên lượng được số phận của mình: Rất có thể Xuân Quỳnh - đoá hoa quỳnh mùa xuân - sẽ chỉ nở và toả hương được vài giờ trong đêm tối rồi tàn lụị Bởi thế, chị đã sống hối hả, nồng cháy, sống hết mình với cuộc đời, với thơ và tình yêu, với hạnh phúc và gia đình, như sợ tất cả những điều quá ư tốt đẹp ấy sẽ vụt qua như ánh chớp.

Chi chút thời gian từng phút từng giờ
Như kẻ khó tính từng hào keo kiệt
Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết
Hôm nay non, mai cỏ sẽ già ...

(Có một thời như thế)

Chị cũng là người biết giữ gìn và biết tận hưởng hạnh phúc cuộc sống ở mức tối đa có thể được hưởng. Xuân Quỳnh chính là đỉnh cao của những con người "nhân bản chủ nghĩa" thời hiện đạị

Thơ tình tôi viết cho tôi
Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều
Vẫn còn nguyên vẹn niềm yêu
Như cây tứ quí đất nghèo nở hoạ
(Thơ tình tôi viết).

Mảng thơ đặc sắc nhất của Xuân Quỳnh chính là mảng thơ về tình yêụ Điều gì đã làm nên sự đặc sắc ấỷ

Trước hết vì Xuân Quỳnh có một "nhân bản yêu đương" cực kì mãnh liệt, là một người con gái có thể "sống chết vì tình". Dạng phụ nữ như Xuân Quỳnh, đã từng được như thi hào Nguyễn Du mô tả:

Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành,
Lại mang lấy một chữ tình
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong,
ở không yên ổn, ngồi không vững vàng,
Ma dẫn lối, quỉ đưa đường
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đị..


Xuân Quỳnh không giấu giếm bản chất ấy của mình:

... Nếu tôi yêu được một người
Tôi yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm
Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay đắng...


Xuân Quỳnh là người hành động nên chị nhất định không chấp nhận kiểu sống "đói lòng ngồi gốc cây sung". Trái lại chị đã "đi khắp chốn tìm người tôi yêu", đồng thời gạt bỏ những gì chỉ là "mạo danh tình yêu". Và khi đã đạt được tình yêu rồi thị chị sống với tất cả chiều sâu thăm thẳm của trái tim:

Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.

(Sóng)

Khi anh nói yêu em, trái tim em đập chừng mạnh qúạ
Mạnh đến nỗi em tưởng là nghe rõ
Tiếng tim anh đang đập vì em.
Em yêu anh, yêu anh như điên ...

Khác hẳn những người đàn bà "sống trong vương quốc của tình yêu mà không biết được biên giới của vương quốc ấy". Xuân Quỳnh là một phụ nữ không những có khát vọng mà còn có đủ khả năng đi đến tận cùng biên giới và tận cùng đáy sâu của vương quốc tình yêụ Phải chăng ở những điểm tận cùng đó mà những câu thơ tuyệt tác đã ra đời:

Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâụ

Ngày nào không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ...

(Thuyền và biển).

Một điều nổi bật trong thơ Xuân Quỳnh là chị không chỉ yêu say đắm mà còn đặt tình yêu ấy lên ngai vàng của sự tôn thờ tuyệt đốị Xuân Quỳnh rất có lí: ở cõi đời nàỵ Tình yêu chẳng phải là điều thực sự đáng tôn thờ hay saỏ Vả chăng. Xuân quỳnh, bằng tất cả những phẩm chất hội tụ trong con người mình, chị đã đạt được một tình yêu đáng tôn thờ. Người chồng, trong mắt Xuân Quỳnh, lúc nào cũng như một người tình mà chị yêu đắm đuối, cũng cảm thấy như "chàng" có thể vuột khỏi tay:

Tới thăm anh rồi em lại ra đi
Đôi mắt lo âu, lời âu yếm xẻ chia
Lúc anh đến, anh đi thành quá khứ
Anh thuộc về những người ngoài cánh cửa

(Thời gian trắng)

Anh, con đường xa ngái
Anh, bức vẽ không màu
Anh, nghìn nỗi lo âu
Anh, dòng thơ nổi gió...
Mà em người đời thường
Biết là anh có ở!

(Anh)

Cũng vì tôn thờ tình yêu thái quá, có lúc Xuân Quỳnh đã có linh cảm chẳng lành về hạnh phúc của mình. Thơ tình của chị đã đã đẩy tình yêu lên tầm bi kịch: Tình yêu tuyệt đích có thể sẽ kết thúc cách nào đó thật bất ngờ, trước khi tuổi già sộc đến:

Đọc bài thơ yêu em thấy sự chia xạ
Và bỗng nhiên em lại bơ vơ,
Tay vẫn vụng, trán dô ra như trước...

(Thơ viết cho mình)

Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố

(Thuyền và biển)

Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh thật là nồng nàn, sâu sắc và đượm nỗi thoảng thốt lo âu, tất cả được diễn đạt bằng một ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hầu như không cách điệụ Đó là thứ thơ đạt tới tầm cao của nghệ thuật nhưng vẫn dễ hiểu với đông đảo quần chúng, vẫn có thể gây được những niềm xúc động khác thường:

Em trở về đúng nghĩa
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồị


Và rồi cái điều bất ngờ nhất đã xảy ra với Xuân Quỳnh. Chị qua đời ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương, tỉnh Hải Hưng cùng chồng là Lưu Quang Vũ và con trai út Lưu Quỳnh Thơ (13 tuổi) để lại biết bao thương tiếc cho tất cả những ai yêu thơ chị, yêu kịch Lưu Quang Vũ.

Thế nhưng chính sự kết thúc ấy đã khiến cho tình yêu mà chị tôn thờ trở thành bất tử, đã làm Xuân Quỳnh và Thơ Xuân Quỳnh dường như càng đẹp ngời thêm lên bởi một vừng sáng kì diệu của huyền thoạị



CÁC TÁC PHẨM CHÍNH:
THƠ: - Tơ tằm - Chồi biết (In chung)
- Hoa dọc chiến hào
- Gió Lào cát trắng
- Lời ru trên mặt đất
- Sân ga chiều em đi
- Tự hát
- Hoa cỏ may (Giải thưởng văn học năm 1990 của Hội nhà văn).
SÁNG TÁC CHO THIẾU NHI:
- Cây trong phố - Chờ trăng (tập thơ - In chung)
- Bầu trời trong qủa trứng (tập thơ - Giải thưởng văn học năm 1982 - 1983 của Hội nhà văn)
- Truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ)
- Bao giờ con lớn (tập truyện)
- Chú gấu trong vòng đu quay (tập truyện)
- Mùa xuân trên cánh đồng (tập truyện)
- Bến tàu trong thành phố (tập truyện)
- Vẫn có ông trăng khác (tập truyện)

 
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on March 31, 2006, 05:53 PM
Chủ đề thơ Xuân Quỳnh thường là những vấn đề nội tâm: kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu gia đình... Hiện thực xã hội, sự kiện đời sống hiện diện như một bối cảnh cho tâm trạng. Do vậy thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng cá nhân nhưng không là thứ tháp ngà xa rời đời sống. Thơ chị là đời sống đích thực, đời sống của chị trong những năm đất nước còn chia cắt, còn chiến tranh, còn nghèo, còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ nữ, người phụ nữ làm thơ thường ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn. Xuân Quỳnh không làm ra thơ, không chế tạo câu chữ mà chị viết như kể lại những gì chị đã sống, đã trải. Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhà thơ hiện đại cùng thời chính là ở khía cạnh nội tâm đó. Thơ chị là thơ mang tâm trạng. Thời ấy nhiều bài thơ thiên về phản ánh sự kiện, cốt để được việc cho đời, còn tâm trạng tác giả thường là tâm trạng chung của xã hội, vui buồn tác giả hòa trong vui buồn chung của công dân. Tâm trạng thơ Xuân Quỳnh là tâm trạng nảy sinh từ đời sống của chính chị, từ hoàn cảnh của riêng chị. Viết trên đường 20 là bài thơ chiến tranh nhưng lại mang nỗi lòng trăn trở xao xác của một người đang yêu. Có bài bề bộn chi tiết hiện thực như một ký sự. Những năm ấy, đúng là ký sự về đời sống Hà Nội những năm chống Mỹ, nhưng nó không thành ký mà vẫn là thơ do nỗi lòng riêng của tác giả đã tạo nên một mạch trữ tình xâu chuỗi các chi tiết rời rạc của ngày thường lại, tổ chức nó thành kết cấu của bài thơ. Xuân Quỳnh có tài tỏa lên các chi tiết ngẫu nhiên quan sát được từ đời sống một từ trường cảm xúc của nội tâm mình, biến các chi tiết đời trở nên thơ, có sức gợi, sức ám ảnh kỳ lạ (Trời trở rét, Không đề, Gió Lào cát trắng, Mùa hoa doi, Hoa cỏ may...)



Thơ Xuân Quỳnh giàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế nhưng lẩn khuất phía sau tình cảm ấy lại là tư tưởng có tính khái quát, triết lý (Cơn mưa không phải của mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loàìi người, Những người mẹ không có lỗi...) Đấy là những triết lý nảy sinh từ đời sống, nó có tính thực tiễn, giúp ích thật sự cho người đọc nhận thức và xử lý việc đời, không phải thứ triết lý tư biện, viễn vọng mà chẳng dùng được vào việc gì.



Đề tài, đối với Xuân Quỳnh, không phải là quan trọng. Điều chị quan tâm là chủ đề. Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có tứ, chị dùng tứ để bộc lộ chủ đề. Đây là một đóng góp đáng quý của Xuân Quỳnh vì giai đoạn ấy thơ chúng ta rất lỏng về tứ. Xuân Quỳnh có năng khiếu quan sát. Chị quan sát bằng tất cả giác quan và phong phú trong liên tưởng. Chi tiết vốn quen thuộc bỗng trở nên mới lạ, tạo ý vị cho câu thơ. Một màu cỏ mùa xuân: Cỏ bờ đê rất lạ/ Xanh như là chiêm bao. Tiếng mưa trên lá cọ: Mưa trên cọ bàng hoàng rồi vụt tạnh.



Cũng có thể vì có tài quan sát mà ở một số bài Xuân Quỳnh ham tả, ham kể. Kể có duyên nhưng vẫn làm loãng chất thơ. Những bài thơ dài của Xuân Quỳnh thường dài vì rậm chi tiết.



Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ hàng đầu của nửa cuối thế kỷ 20.




 ( Thông tin được sự giúp đỡ của Vietmedia và nhimviet )

VA : Anh chỉ giúp được thế thui, mày ko làm được bài thì tự trách mày nhá .
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on April 06, 2006, 03:34 PM
Tác Giả Hoàng Cầm

Tên thật: Bùi Tằng Việt. Sinh năm 1922. Người huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Vùng quê nhiều di tích văn hóa vật thể và phi vật thể Kinh Bắc này đã có một ảnh hưởng sâu đậm, có thể nói là kiến tạo nên hồn thơ Hoàng Cầm.

Ông viết văn từ trước cách mạng, kịch thơ Hận Nam Quan xuất bản 1944, Kiều Loan viết từ 1942, diễn 1946. Về thơ, Hoàng Cầm trở nên quen biết từ bài thơ dài Bên kia sông Đuống (1948). Bên kia sông Đuống cùng với Nhớ của Hồng Nguyên, Tây tiến của Quang Dũng, Đồng chí của Chính Hữu... đã là những thành tựu tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp, đã là tiền đề, góp phần tích cực tạo nên phẩm chất trữ tình mới của thơ ca cách mạng. Đó là phẩm chất trữ tình kết hợp nhuần thấm cảm xúc có tính riêng tư của mỗi tâm hồn thi sĩ với hiện thực (bằng những chi tiết, sự kiện cụ thể) của đời sống đánh giặc. Tác giả cho biết bài thơ được hình thành sau lần được nghe người từ quê hương ra Việt Bắc kể chuyện quê nhà đánh giặc trong vùng địch hậu. Câu chuyện có tính thời sự nhưng đã đụng vào phần sâu thẳm và cũng thường trực nhất trong tâm trí Hoàng Cầm: Văn hóa Kinh Bắc. Bài thơ khá dài, 135 câu, đã được viết khá nhanh. Người đoûc hôm nay vẫn nhận thấy rõ cả bài thơ liền trong một mạch tâm sự, một gioûng kể, một sắc thái tâm trạng. Nền cảm xúc xao xuyến trong toàn bài ấy là niềm hoài niệm tình tự dân tộc. Kinh Bắc, cái nôi xưa của văn hóa Sông Hồng với núi Thiên Thai, với chùa Bút Tháp, với các địa danh vang voûng lòng người: chợ Hồ, chợ Sủi, Đông Tỉnh, Huê Cầu, với tranh Đông Hồ in trên giấy điệp, với hội hè đình đám, con gái, con trai... Một hoài niệm đau buồn, vì tất cả đã nằm trong tay giặc, tất cả đang bị giày xéo, thiêu hủy. Lòng yêu nước mang một chiều sâu văn hóa có sức cảm hóa lòng người Việt Nam rất rộng. Hoàng Cầm đã diễn tả các sự kiện thời sự bằng chất liệu văn hóa, bằng tình tự dân tộc. Câu thơ luôn luôn hướng vào nội tâm là vì vậy:

Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?


Thi liệu đó lấy từ nội dung tranh Tết Đông Hồ. Và đây là từ phong tục, tập quán hay đúng ra từ những kỷ niệm của tâm hồn người Kinh Bắc:

Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài

(...)

Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?


Câu hỏi về đâu như một điệp khúc thổn thức, xa xót sau mỗi lần nhắc tới những vẻ đẹp lộng lẫy, trong sáng, đầm ấm của văn hóa truyền thống. Hoàng Cầm sử dụng đúng chỗ sức gợi của những hình ảnh xưa, mà ở thời điểm ấy vẫn còn là thực tại: khuôn mặt búp sen, hàm răng đen, cặp môi cắn chỉ quết trầu, dăm miếng cau khô, mấy loû phẩm hồng...

Cách tận dụng sức gợi rất biểu cảm này, ở các giai đoạn sáng tác sau Hoàng Cầm vẫn phát huy nhưng không còn giữ được sự chừng mực như lúc này, nên nhiều khi sức gợi ấy chỉ còn tác dụng như những đường viền trang trí (Mưa Thuận Thành).

Một sinh hoạt văn hóa rất Bắc Ninh và nổi tiếng toàn quốc là hát quan hoû. Hát quan hoû để rất nhiều dư ba trong thơ Hoàng Cầm và đã tụ lại đậm đặc trong chùm thơ Tiếng hát quan hoû. Tác giả mượn thơ giới thiệu nguồn cội của mình, một nguồn cội lãng tử người quan hoû thời trước:

Mẹ chờ tua rua chỉ lối
Bỏ đi theo người trai
Chở thuyền hát lặn những đêm trăng
Mười năm sau ngày cưới
Bố nhớ lời ca, mê theo đám hội
Van người vợ trở về
...

Nhờ đó tôi ra đời.


Hoàng Cầm hơi giống Nguyễn Bính khi ông tắm hồn mình vào những đêm hội làng, những đêm đập sợi, dệt vải Tiếng hát trập trùng mái gianh phủ khói. Lúc đó ông tạo được không gian mộng thay cho đời thực, những chi tiết của đời sống được roûi bằng thứ ánh sáng kỳ ảo như ánh trăng, có sức làm ngân lên những kỷ niệm ấu thơ tổ tông truyền lại của mỗi lòng người Việt Nam, dù đang ở đâu, dù ở thuở nào:

Những mái nhà quần tụ dưới thôn
Gà gáy trong mùi khói rạ
Khoai nướng bốc thơm
Em bé trái đào hát ru lanh lảnh
Bếp nhà ai lửa ánh
Thoáng màu áo trắng sau rặng tre thưa.


Không gian thơ Hoàng Cầm là không gian hoài cổ đất xưa Kinh Bắc. Đó là vị riêng của Hoàng Cầm. Khi chỉ cần ít nét, khi phải rất nhiều câu, nhưng bao giờ ông cũng muốn tạo không gian mộng ảo. Đoûc ông nên chuồi theo cảm xúc, sống vào không gian ông tạo dựng mà tìm thơ, đừng đòi nhiều ở ông sự hàm súc có tính tư tưởng.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on April 07, 2006, 10:34 AM
Tác giả Huy Cận :

 Huy Cận (sinh năm 1919) bạn "nối khố" của nhà thơ Xuân Diệu, cặp thi sĩ này hầu như luôn đồng hành với nhau suốt những chặng đường thơ, kể từ thời kỳ Thơ Mới.
Nếu Xuân Diệu có thiên hướng rõ rệt về thơ tình, và đã trở thành Nhà Thơ Tình đứng vào bậc nhất của thơ Việt Nam hiện đại, thì Huy Cận là nhà thơ có bút lực vạm vỡ với nhiề u mảng đề tài đa dạng, không ngoại trừ cả thơ tình.
Nhà thơ xứ Nghệ chắc chắn đã hấp thụ được tinh hoa văn hó, tinh thần của quê hương xứ sở mình - một vùng đất "địa linh nhân kiệt", từ xưa lừng danh bởi đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước.
Nếu như chất thơ phóng lãng, cao diệu và kì tuyệt thuộc về các thi nhân đất Bình Định, và chất thơ lãng mạn của cả "kẻ chợ" lẫn "người quê" thuộc về các thi nhân xứ Bắc, thì chất thơ "lục nạc" như đất thịt, mạnh mẽ, chân thực như lưỡi cày xới đất, là của các nhà thơ xứ Nghệ như Huy Cận. Những tinh hoa của quê hương xứ sở kết tinh vào Huy Cận chủ yếu ở hai điểm: tư tưởng và nghệ thuật.
Thật vậy, từ thời kỳ Thơ Mới trở đi, đại bộ phận các nhà thơ của chúng ta thường nghiêng về biểu đạt những cảm xúc cá nhân, những tình cảm gần gũi. Chỉ ở một số ít nhà thơ như Thế Lữ, Huy Cận... chúng ta có? thể ? tìm thấy ít nhiều những tư duy sáng tạo, những viên gạch nhỏ từng được thế giới này dùng để xây nên toà? lâu đài tư tưởng đồ sộ của nhân loại.
ở Huy Cận, mỗi khám phá của tư tưởng lại tạo ra một tứ thơ hay. Tuy là thi sĩ của một thời, nhưng hình như Huy Cận có ý? thức vươn tới những đề tài muôn thuở, muốn hoà nhập vào với cái Đẹp vĩnh cửu, muốn tìm? chân lý cuộc sống ở tận "ngọn nguồn lạch sông":
Cây với người, xưa có lẽ láng giềng
Đây đó cũng ngẩng đầu lên kiếm Gió.
Nằm trong tiếng nói yêu thương
Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời.
Thâu qua cái ngáp dài vô tận
Hình ảnh lung linh vũ trụ tàn...
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on April 07, 2006, 10:38 AM

 Tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ :


Tên thật cũng là bút danh, sinh ngày 18-9-1949 tại quê gốc huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Trong kháng chiến chống Mỹ 1965-1975, Lâm Thị Mỹ Dạ làm việc ở Hội Văn Nghệ Quảng Bình và bắt đầu làm thơ. Quảng Bình khi ấy là vùng chiến sự ác liệt nhất miền Bắc. Chặng thơ đầu tiên của Lâm Thị Mỹ Dạ lấy cuộc sống đánh giặc gian lao đó làm nội dung. Đó cũng là đặc tính chung của cả nền thơ. Nét riêng của cây bút trẻ Mỹ Dạ khi ấy là không đuổi theo sự kiện chiến tranh, thơ hông ôm đồm chi tiết hay sự tích chiến đấu. Hiện thực phải rọi qua lăng kính tâm hồn và thủ pháp nghệ thuật mới thành thơ trên trang giấy. Ca ngợi cô gái lấy thân mình đánh lạc hướng bom giặc để cứu đường, bà không viết trực tiếp sự kiện anh hùng ấy. Bài thơ Khoảng trời hố bom không có tiếng bom đạn đã là sự lắng lại của cảm xúc và nhận thức. Cô gái đã thành những làn mây trắng và vầng mặt trời sáng chói in trên mặt nước cái hố bom đã giết cô. Lâm Thị Mỹ Dạ ca ngợi ý chí hy sinh chiến đấu của người kháng chiến lại bằng chính nỗi nhớ cảnh thanh bình của họ. Tính thiện thắng cái ác bằng chính sự tồn tại của nó:

Đêm qua bom nổ trước thềm
Sớm ra trời vẫn ngọt mềm tiếng chim
Nghe hương cây vội đi tìm
Hái chùm ổi chín lặng im cuối vườn.


Nhiều nét đẹp vĩnh cửu của thiên nhiên và tâm hồn con người hiện diện trong thơ chiến tranh của Mỹ Dạ: tình mẹ con, lòng tin vào bản thân, sự hồn nhiên của tạo vật... Ngay từ những bài thơ đầu tay ấy đã có thể thấy tính hướng nội của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.

Thơ mang những nét của bản sắc tâm hồn người viết, rõ nhất là tính phụ nữ, nét dịu dàng của cảm xúc, cách khai thác, cách lọc tìm chất thơ trong đời sống. Cùng với năm tháng, thơ Mỹ Dạ càng tìm sâu vào chính tâm hồn bà, tạo nên một phẩm chất trữ tình khá thuần khiết. Đến tập thơ Đề tặng một giấc mơ (xuất bản 1998) Lâm Thị Mỹ Dạ đã như chú ngựa nhớ mặt trời thì ngửi trong đất đai tìm hơi ấm vương còn. Bà 'đánh hơi' trong mọi ngóc ngách tâm hồn mình để nhận ra đời. Đời của một con người in đỏ dấu ấn của thời người ấy sống. Những cảm xúc của Lâm Thị Mỹ Dạ là cảm xúc chung có tính quy luật của loài người nhưng nó trở thành mới lạ thuyết phục ta bởi tính cá thể cụ thể.

Lâm Thị Mỹ Dạ có một tuổi thơ vất vả. Dấu vết còn in trong giọng thơ. Giọng thơ luôn phảng phất buồn. Giờ đây vào tuổi lớn ngoảnh lại/ giật mình/ hoang vắng/ Bởi tôi đã gieo tôi cằn kiệt không ngờ. Thảng thốt nhìn năm tháng qua mau, luyến tiếc thời thanh niên sôi nổi được thể hiện như một nhận thức, một giác ngộ về đời người, tưởng thế mà không phải thế:

Tưởng tương lai vẫn còn dài rộng lắm
Nào đâu hay đã gần hết chuyến đò
(...) Tưởng là vậy, tưởng là mình gan góc
Nào đâu ngờ nước mắt cạn đêm nay.


Nước mắt nhưng không phải sự than khóc van xin mà là sự hiểu mình, nhận ra cái sinh linh mỏng mảnh dễ vỡ của chính mình, nhận ra cái ngắn dài của đời người Mới ban mai đã chiều nhạt nắng. Sóng vỗ vào/ Sóng lùi ra/ Từng đợt/ Hỏi trời xa/ Ai lấy hết tuổi mình. Nỗi đau nhất của người, theo Mỹ Dạ, là sự cô đơn. Chị cảm nhận nỗi đau ấy bằng chính cuộc đời mình. Nhà thơ này diễn tả sự cô đơn khá phong phú, khi mượn thiên nhiên hoa lá (Một quỳnh ta) khi trốn vào trò chơi con trẻ (Ném thia lia) khi hiện diện trong cõi một mình. Cô đơn mang tính triết học, cô đơn trong tình yêu. Tâm trạng cô đơn thường bắt nguồn từ lòng yêu đời sâu sắc. Thơ cũng dùng nó để diễn tả một cách xót xa lòng yêu đời. Người phụ nữ trong thơ Mỹ Dạ có lúc muốn lấy trái tim mình làm nghĩa trang chôn những kỷ niệm, muốn trên y phục mình chỉ là một màu đen khâm liệm, nhưng chỉ một cơn gió xuân choàng qua vai, nàng đã không im lặng được.

Người đàn bà nói một câu rất nhỏ
Chỉ để mình nghe
Chỉ để gió nghe


Nhưng bạn đọc chúng ta nghe được. Biểu tượng thơ hơi điệu đà (nói chung thơ Mỹ Dạ hơi điệu) nhưng cũng đủ cho ta thấy nỗi khát khao và niềm hy vọng vào cuộc đời của bà. Mỹ Dạ nói Tạ từ làm ta xót thương, nói ao ước làm ta chói lòng. Ao ước làm con thuyền còn ra khơi được (Trước Nha Trang). Bà cảm nghe thân phận như cái vỏ ốc Trống rỗng hết bao điều quên nhớ, như giọt sương Rơi không thành tiếng... như con sông không tìm thấy biển vì... làm gì có biển (!), Nhưng sau tất cả là một sức phấn đấu nội tâm rất lớn. Phấn đấu ở chỗ xác nhận chất tươi xanh vốn có của tâm hồn chọi lại với mọi già cỗi Ta thành trái mà hồn còn như lá. Xác nhận kích cỡ người đàn bà thời nay: muốn anh thành cao, thành rộng, thành sâu sắc thì em phải nhỏ như búp bê. Và nếu ta là cái vỏ ốc rỗng thì hãy ném ta vào biển để ta hiểu được muối mặn - hiểu giọt mồ hôi chát đắng nỗi trần gian. Người đàn bà tuổi Sửu này (Kỷ Sửu) cảm tạ trời đất lúc mùa xuân:

Trâu ăn bao nhiêu cỏ
Mùa xuân lại dâng đầy
Cám ơn trời che chở
Cho trâu hoài thơ ngây.  
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on April 07, 2006, 10:40 AM
Tác giả Lưu Trọng Lư:

Lưu Trọng Lư là tên thật, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1912 tại Cao La Hạ, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học.

Học trường Quốc Học Huế đến năm thứ ba thì bỏ ra Hà Nội học tư, rồi bỏ đi làm thơ, làm báo, viết văn.
Chủ trương Ngân Sơn Tùng Thư tại Huế năm 1933-1934. Sau 1954, ông làm vụ trưởng Vụ Sân Khấu Bộ Văn Hóa, và là Tổng thư ký Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu Việt Nam.

Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Tiếng Thu (1939), Người Con Gái Sông Gianh (1966), Từ Đất Này (1971), Hồng Gấm. Tuổi Hai Mươi (kịch thơ, 1973).

Mặc dù Lưu là một trong những người cổ động cho Thơ Mới ồn ào nhất, đọc thơ ông, người ta vẫn có cảm tưởng nó chẳng mới bao nhiêu. Thơ Lưu Trọng Lư vẫn là một khúc đàn xưa, giàu tình cảm lẫn nhạc điệu với những rung động chân tình, dễ gây ấn tượng trong người đọc.

Nhận xét của Hoài Thanh - Hoài Chân: "... thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta".
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on April 07, 2006, 10:42 AM
Tác giả Nguyên Sa:

Nguyên Sa tên thật Trần Bích Lan, sinh năm 1932 tại Hà Nội.

Du học Pháp từ thuở niên thiếu và đậu cử nhân văn chương, Nguyên Sa về Việt Nam sau hiệp định Genève năm 1954 và làm ngạc nhiên nhiều người vì khả năng sử dụng tiếng Việt tuyệt vời của ông. Ông sinh sống bằng nghề giáo sư dạy Triết và rất thành công.

Thơ Nguyên Sa trữ tình, lãng mạn, giàu nhạc điệu, chất chứa sáng tạo trong ngôn ngữ cũng như hình ảnh, đôi khi pha lẫn thi tứ triết học.

Ông sang Mỹ năm 1975 và từ đó làm báo. Ông đã từ trần ngày 18-4-1998 tại Orange County, nam California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 66 tuổi.

Tác phẩm tiêu biểu: Thơ Nguyên Sa (1958), các tập biên khảo Quan Điểm Văn Học và Triết Học, Một Bông Hồng cho Văn Nghệ..., truyện Gõ Đầu Trẻ, tập truyện Mây Bay Đi.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on April 07, 2006, 10:45 AM
Tác giả Nguyễn Bính:

 
Tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918 tại làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bảng, tỉnh Nam Định (nay là Hà Nam Ninh). Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, tự học ở nhà, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi.

Nguyễn Bính được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm Hồn Tôi.

Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam, Ty văn hóa thông tin Nam Hà. Năm 1958, Nguyễn Bính làm chủ bút báo Trăm Hoa.

Ông mất ngày 20 tháng 1 năm 1966 tại Hà Nội.

Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang (1940), Tâm Hồn Tôi (1940), Hương Cố Nhân (1941), Mây Tần (1942), Người Con Gái Ở Lầu Hoa (1942), Tình Nghĩa Đôi Ta (1960), Tuyển Tập Nguyễn Bính (1984); kịch thơ Bóng Giai Nhân (1942); truyện thơ Truyện Tỳ Bà (1944)...
Thơ Nguyễn Bính "chân quê": giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng, trong sáng, và hồn nhiên như ca dao trữ tình. Ông viết về làng quê qua lăng kính tình cảm lãng mạn, biểu lộ một tình quê, một hồn quê chân tình và gần gũi. Giáo Sư Lê Đình Kỵ có nhận xét về thơ Nguyễn Bính: "Nổi bật lên ở Nguyễn Bính là ca dao, ở cảm xúc lẫn tư duy, ở cả ý, tình, và điệu... "
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on April 07, 2006, 10:52 AM
Nguyễn Du (1765 - 1820)

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Ông sinh trưởng trong một gia đình quý tộc, cha là Nguyễn Nghiễm quê gốc Tiên Điền Nghi Xuân, Nghệ An (nay là Hà Tĩnh), từng làm tể tướng triều đình. Mẹ là Trần Thị Tần con gái Kinh Bắc, bà là người có nhiều ảnh hưởng tới Nguyễn Du thủa niên thiếu. Trong cuộc đời mình, Thăng Long không phải là nơi ông đã sống những tháng năm dài nhất, nhưng đó lại là nơi lưu giữ nhiều kỷ niệm của một thời vui tươi êm ả. Xuất thân trong một gia đình quý tộc có thế lực vào bậc nhất ở Thăng Long lúc bấy giờ, tuổi ấu thơ của Nguyễn Du đã trôi qua trong vàng son nhung lụa. Sau khi cha mẹ mất, ông sống trong nhà Nguyễn Khản (anh cùng bố khác mẹ) cũng là một người tài hoa phong lưu rất mực ở kinh kỳ “trong nhà không lúc nào bỏ tiếng tơ tiếng trúc”.

Về sau, xảy ra tai biến với Nguyễn Khản, Nguyễn Du rời Thăng Long bắt đầu nếm trải cuộc sống phong trần: Hết làm quan võ ở Thái Nguyên lại về quê vợ ở Thái Bình, sau đó trở về quê cha ở Nghệ An, rồi lại vào Gia Định theo Nguyễn ánh, bị quân Tây Sơn bắt giam 3 tháng, sau đó ông trở về Tiên Điền cho đến khi Nguyễn ánh giành được ngai vàng, ông lại ra làm quan nhà Nguyễn. Từ đây con đường quan
chức của ông bắt đầu thăng tiến thuận lợi. Từ tri phủ huyện Phù Dung, đến tri phủ Thường Tín rồi lên Nam Quan tiếp sứ thần Trung Quốc, sau đó lại được phong Đông các học sĩ, hết làm giám hộ thi hương ở Hải Dương lại làm Cai bạ Quảng Bình rồi thăng lên hàng Chánh sứ đi Trung Quốc. Ông mất đột ngột ngày 10/8/1820 khi chưa kịp đi xứ Trung Quốc lần hai. Tác phẩm ông để lại gồm: Thanh Hiên Thi tập, Thác lời trai phường nón, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Nam trung tạp ngâm, Truyện Kiều, Bắc hành tạp lục, Văn chiêu hồn.

Nhắc đến Nguyễn Du người ta nghĩ ngay tới truyện Kiều, một kiệt tác thơ nôm mà ông đã dành nhiều tâm huyết để tạo nên. Tuy nhiên, truyện Kiều quá hay, quá nổi tiếng đến nỗi làm cho người ta quên đi một mảng sáng tác khác cũng không kém phần giá trị. Đó là những sáng tác bằng chữ hán viết về Thăng Long. Với mảnh đất này ông để lại cho hậu thế những vần thơ hiếm có.

Nguyễn Du viết về Thăng Long không nhiều nhưng rải rác trong Thanh Hiên thi tập, Bắc hành tạp lục, Nam trung tạp ngâm đều có hình ảnh Thăng Long. ở đó không chỉ có chuyện đời dâu bể của xã hội thị dân trải nhiều biến cố mà còn trực tiếp bộc lộ những cảm xúc và tâm trạng riêng của nhà thơ:

Tản lĩnh, lô giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Đồng du hiệp thiếu tần thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.
(Thăng Long I)


Những triết lý về cuộc đời chìm nổi biến hoá, về sự tranh đoạt của thế thái nhân tình đã làm bài thơ Thăng Long của ông trở thành tiếng vọng của đời sống. Bức chân dung hiện thực ấy sau này còn xuất hiện khá nhiều trong thơ ông. Có lẽ bắt nguồn từ những ngày sống ở kinh thành đã không chỉ giúp ông hiểu sâu cuộc sống của tầng lớp thượng lưu trong xã hội kể cả cách sống hào hoa lẫn lối ăn chơi phóng túng xa xỉ của họ mà còn cho ông có điều kiện tiếp xúc với giới ca kỹ cùng nỗi khổ của lớp người tài hoa bạc phận này. Tự coi là người “cùng hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã”, Nguyễn Du không chỉ đồng cảm xót thương mà còn trân trọng với cuộc đời đầy nước mắt của Tiểu thanh, cô Cầm. Điều băn khoăn của ông là “bách dư tam bách dư niên hậu - Thiên hạ hà nhân khắp Tố Như” cũng là không ngoài mong mỏi tìm thấy người đời sau những tấm lòng đồng điệu với nỗi đau nhân tình của ông và đó cũng là tiếng lòng ông đối với Thăng Long.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on April 08, 2006, 08:31 PM
Tác giả Nguyễn Duy :

Tên thật Nguyễn Duy Nhuệ

Sinh năm 1948; quê quán Thanh Hóa

Làm thơ khá sớm, từ đầu thập niên 70, thơ ông đăng rải rác trên báo chí miền Bắc
giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ tổ chức tại Hà Nội 1972-1973 với những tác phẩm trong tập thơ Cát Trắng

Tác phẩm tiêu biểu:

các tập thơ Cát Trắng(1973), Phóng Sự 30-4-75(1981), Ánh Trăng(1984), Đãi Cát Tìm Vàng(1987), Mẹ và Em(1987); kịch thơ Em Sóng(1983); tiểu thuyết Khoảng Cách(1986); bút ký Nhìn Ra Bể Rộng Trời Cao(1986)...

một Nguyễn Huy Thiệp trong lãnh vực thơ ca (theo Nguyễn Hưng Quốc)
nhiều bài thơ ông bị cấm phổ biến vì bày tỏ thái độ bất mãn và phản kháng.

Nhận xét của Trịnh Công Sơn về Nguyễn Duy: ``Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó...''
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on April 08, 2006, 08:33 PM
Tác giả Nguyễn Nam An: [/u]
 
 Tên thật Lê Văn Mùi. Bút hiệu khác An Phú Vang. Sinh tại Ðà Nẵng Quảng Nam. Cựu học sinh Phan Chu Trinh. Hiện định cư tại Hoa Kỳ.

Tác phẩm đã xuất bản:

Tôi Chim Ngủ Ðậu Cành Xanh (thơ, Nhân Văn xuất bản 1996)
Thức, Buồn Chi (thơ, Nhân Văn xuất bản 1996)
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on April 08, 2006, 08:36 PM
Tác giả Nguyễn Nhược Pháp:

Nguyễn Nhược Pháp (1914-193)

Thi sĩ sinh ngày thứ bảy, 12 tháng 12 năm 1914 (nhằm ngày 25-10 năm Giáp Dần) tại Hà Nội. Là con trai thứ của văn hào Nguyễn Văn Vĩnh và là em của nhà thơ Nguyễn Giang. Ông theo học trường trung học Albert Sarraut. Sau khi đậu tú tài ông học luật trong một thời gian cùng với thi sĩ Phạm Huy Thông. Vào 7 giờ sáng ngày 19-11-1938 (nhằm ngày 28-9 năm Nhâm Dần) ông qua đời tại bệnh viện LaneSao Biểnan Hà Nội vì bệnh thương hàn, hưởng thọ 24 tuổi.

Tác phẩm đã in: Ngày Xưa (Nguyễn Dương xuất bản, Hà Nội 1935) Người học vẽ (kịch bản, xuất bản 1936 Hà Nội)

Trong thi phẩm Ngày Xưa, chúng ta thấy thi sĩ sắp xếp thứ tự như sau:

1. Sơn Tinh Thủy Tinh (Avril 1933), thất ngôn
2. Mỵ Châu (Janvier 1933), thất ngôn
3. Giếng Trọng Thủy (Janvier 1933), thất ngôn
4. Tay ngà (2 Mai 1934), ngũ ngôn
5. Mỵ Ê (Mai 1933), thất ngôn bát cú
6. Một buổi chiều xuân (6 Mai 1933), ngũ ngôn
7. Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống (30 Décembre 1932),
thất ngôn bát cú
8. Đi cống (10 Mai 1933), thất ngôn
9. Mây (25 Janvier 1934), ngũ ngôn
10. Chùa Hương (Aout 1934), ngũ ngôn

Ở đường Phan Thanh Giản, nơi cư ngụ của nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh, thường thường là một nơi anh em văn nghệ họp mặt ngày trước. Ở đó, có một người thi sĩ đời xưa... xin Thanh Hữu đừng phiền nghe anh! Tôi gọi anh là một thi sĩ đời xưa, tôi cho anh là người đi lạc giữa đời hỗn độn nầy. Tôi cảm hiểu anh lắm đó --

Người thi sĩ nầy ngâm thơ thật lạ thường -- anh ngâm thơ cổ, anh trình bày kịch thơ Kiều Loan, tôi ngỡ anh là người của đời Xuân Thu, kẻ sĩ của một thời oanh liệt nhất lịch sử, và điều mà tôi muốn nói ở đây là anh đã mang được những nét duyên dáng của thơ Nguyễn Nhược Pháp -- nét đùa cợt dí dỏm đó, cũng như sự quyến luyến say sưa của anh với nhà thơ nầy, vào tâm hồn say thơ của tôi. Từ đó tôi để ý và đi tìm đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp -- bài Sơn Tinh Thủy Tinh. Thật cả một sự lạ, tôi không ngờ Nguyễn Nhược Pháp có tâm hồn tươi tắn đến thế. Cái gì đối với ông cũng hiện hoạt trong sáng, trẻ trung điểm vào một tính chất hoài cổ lơ thơ của một người có vóc dáng dân tộc học nhưng còn một vẻ ý nhị Á Đông. Tôi đọc thơ ông để cảm, để vui giây bâng khuâng của một lứa tuổi thanh xuân nào đó.

Nguyễn Nhược Pháp hay kể chuyện bằng thơ -- chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, chuyện đi Chùa Hương, chuyện Đi Cống sứ vân vân... nhưng kể mà gợi lại được những huyền thoại xưa, kể mà làm lưu luyến người đọc, nghệ thuật kể chuyện bằng thơ... có lẽ chỉ có một Nguyễn Nhược Pháp mà thôi vậy.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on April 08, 2006, 08:38 PM
Tác giả Nguyễn Sỹ Tế:

Sinh năm 1922 tại Nam Ðịnh
vào Nam năm 1954
cựu hiệu trưởng trường Trường Sơn Sài Gòn
đã trải qua 13 năm trong các trại cải tạo, sau 1975.
hiện định cư tại Hoa Kỳ

Tác phẩm đã xuất bản:

Chờ Sáng (1962)
và nhiều sách nghiên cứu văn học Việt Nam

Người ta biết đến ông như một nhà văn hay một nhà giáo hơn là một nhà thơ.

Nhưng dù ở cương vị nào, ông cũng hiền lành, nhân ái, ngay cả đối với những người đày ải và đối xử tàn tệ với bản thân mình và đồng bào ruột thịt của mình. Ông không chiến đấu, dù là chiến đấu bằng ngòi bút. Ông chỉ giáo dục, cảm hóa người khác, bằng ngòi bút.

Thơ ông luôn có cái chừng mực trầm tĩnh, đạo mạo của một nhà giáo, nhưng không thiếu cái đẹp trong sáng, siêu thoát của một đạo nhân.

Những bài sau đây trích từ thi phẩm Khúc Hát Gia Trung của ông, do Edition Imn xuất bản năm 1994, hai năm sau khi ông đặt chân đến Hoa Kỳ.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on April 08, 2006, 08:40 PM
Tác giả Nguyễn Tất Nhiên:

Tên thật Nguyễn Hoàng Hại, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952 tại Biên hòa
mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại California Hoa Kỳ

Tác phẩm:

Nàng Thơ Trong Mắt
Dấu Mưa Qua Ðất
Thiên Tai
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Nuage on April 10, 2006, 07:06 PM
@ Casanova : Khiếp quá, tưởng ai , hoá ra là anh Pintu . em đọc nhanh cái nick anh , em tương là Cavamasilô ( cá vàng mắt siêu lồi )   kha kha

em cảm ơn nhé, lần này không kịp nhưng chắc chắn em còn dúng đến nó mà. hì, em chỉ cảm on thế thôi, tiền công không có đâu. Bác mod thích thì del giùm em  
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Casanova on June 15, 2006, 05:27 PM
Tác giả Phan Thị Thanh Nhàn:

Bút danh cũng là tên thật. Sinh năm 1943 tại quê gốc xã Tứ Liên, Hà Nội. Viết báo, làm thơ, viết truyện trẻ em. Trong lứa viết văn xuất hiện đầu kháng chiến chống Mỹ, Phan Thị Thanh Nhàn hay được dẫn ra sau Xuân Quỳnh, như những cây bút nữ tiêu biểu của thời đó.

Thanh Nhàn có thơ đăng báo từ những năm đầu thập niên 60, nhưng bà được đông đảo độc giả biết đến là từ khi bài Hương thầm được giải nhì trong cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ năm 1969. Bài thơ này tập trung được nhiều nét đặc sắc của thơ Thanh Nhàn. Thơ bà khá đậm nữ tính. Nhân vật trữ tình của bà thường là các cô gái bán tỉnh bán quê, e lệ nhưng thông minh như cô gái trong Hương thầm gói chùm hoa bưởi vào chiếc khăn tay sang thăm người con trai hàng xóm ngày mai ra trận. Vào cuối thế kỷ 20 rồi, cái lối tỏ tình ấy chỉ còn lưu lại ở những vùng quê ngoại thành. Không gian thân thuộc của thơ Thanh

Nhàn chính là đất ngoại thành quê gốc, nơi sinh nơi trưởng của bà, vùng Yên Phụ-Hồ Tây, Hà Nội. Những con người lam làm vất vả nghèo khó đất ngoại ô này: ông mù quét rác, bà chè chai đồng nát... chiếm một cảm tình sâu nặng trong thơ bà. Thanh Nhàn viết bằng những kỷ niệm ấu thơ, và bằng cả chất liệu của chính cuộc sống thường nhật. Bà không tìm thơ xa xôi, cũng không kiễng lên với những chủ đề lớn. Thơ bà giản dị, cảm xúc chân thực. Bà không mạnh tưởng tượng nhưng lại giỏi phát hiện chất thơ sinh động trong đời sống thật như ở một đám cưới ngày mùa:

Các cụ ông say thuốc
Các cụ bà say trầu
Còn con trai con gái
Chỉ nhìn mà say nhau.  


Và nhất là ở chính nội tâm bà. Đây là mặt mạnh trong cảm xúc trữ tình của Thanh Nhàn. Thơ bà cho thấy cuộc đời của bà. Tình cảm với những người thân trong gia đình: mẹ, em gái, em trai..., và nhất là vùng thơ tình yêu. Bà ít viết những đề tài ngoài mình, những đề tài xã hội. Bà viết như tâm sự, giãi bày chính nỗi lòng mình. Rất nhiều cung bậc tình yêu đầy nữ tính được lưu giữ chân thật cảm động trong thơ Thanh Nhàn: thuở ban đầu:

Tay anh cầm lần ấy
Tôi xấu hổ cúi đầu
Cửa đừng nghe trộm đấy
Tôi chả bằng lòng đâu

Rồi lúc vào tuổi lớn:
Mắt đeo kính tóc rụng thưa
Gặp người yêu cũ muốn vờ rằng quên.[/color]


Thanh Nhàn có nhiều trăn trở trong duyên phận và bà đã chuyển tải chúng vào thơ khá tinh tế. Khi chia sẻ với gương mặt hạnh phúc sau xe đạp người ta, khi chạnh lòng trong ngày vui em gái:

Nhìn hai em thật đẹp đôi
Vu vơ lòng chị bỗng hơi hơi buồn
Một lời giao hẹn rất đàn bà:
Nếu anh đi với người yêu
Chỉ xin anh nhớ một điều nhỏ thôi
Con đường ta đã dạo chơi
Xin đừng đi với một người khác em.


Một quan sát tâm lý trong đời sống gia đình:

Chiều nay chắc giận em ghê lắm
Anh bực mình triết lý lung tung.


Thanh Nhàn tự biết mình là người đa mang, đa cảm. Bà diễn tả tài tình nhiều cung bậc về sự cô đơn. Khi thì an ủi bông hoa nở một mình:

Một mình đâu? Có trời cao
Có heo may lạnh rì rào cùng hoa.


Hoa có trời cao và gió lạnh ở bên. Hình thức là an ủi nhưng thực chất là lời than xót xa. Nhạy cảm với cô đơn, bà lắng nghe mình và tự cảnh giác:

Xin đừng bước lại gần hơn
Xin đừng gửi kẹo cho con ở nhà
Xin đừng trò chuyện gần xa
Xin đừng điện thoại, đừng qua trước thềm.


Quay nhìn lại, ngót bốn mươi năm làm thơ, Thanh Nhàn không bâng khuâng về thơ mà bâng khuâng về đời, về duyên phận:

Bây giờ tóc bạc tuổi cao
Thơ mình mình đọc câu nào cũng thương
(...) Người yêu ngày ấy đâu rồi
Chỉ câu thơ sống cùng tôi tuổi già.


Với Thanh Nhàn, thơ như lý lịch cuộc đời. Đó là một hướng đi đúng, nhất là đối với các cây bút nữ, vốn mạnh cảm xúc nội tâm. Thanh Nhàn lấy chính mình làm đối tượng khám phá, làm đề tài lẫn chủ đề cho thơ. Bà tìm ra cái bất ngờ ở tuổi bốn mươi Băn khoăn bỡ ngỡ như hồi mười lăm. Lại có khi tạ lỗi rất thật thà Tạ lỗi người thương tôi/ Bởi người tôi thương mến/ Đã thờ ơ mất rồi. Đọc Thanh Nhàn đừng bận tâm đi tìm tư tưởng. Bù lại, thơ bà dễ thân, dễ thành bạn tâm tình chia sẻ với mọi người. Giọng thơ giản dị, câu thơ càng ngày càng được chăm sóc tỉ mỉ. Tình cảm chín dần trong nỗi thấm thía nội tâm. Bước tiến của Thanh Nhàn song hành với sự lịch lãm từng trải và sự lao động kiên trì của bà. Thanh Nhàn ngày càng lặn sâu vào lòng mình, mạnh dạn mà cũng khá nhuần nhuyễn bộc lộ nỗi riêng tư rất cá thể trước cuộc đời. Bà cảm tạ cuộc đời, cảm tạ bạn đọc tri kỷ, lời lẽ chân thành như nói với mai sau:

Ai sẽ đọc thơ tôi
Với tấm lòng trân trọng
Ai có cảm thương tôi
Suốt một đời lận đận
(...) Lặng im trong lặng im
Có nghe lời cảm tạ.  
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Pinturicchio on June 15, 2006, 06:33 PM
Tác giả Quang Dũng:

Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội). Năm 1947, đại đôi trưởng đòan quân Tây tiến.

Hoạt đông văn nghệ ở Liên Khu III thời kháng chiến. Sau 1954, sống như một kẻ vô danh tại miền Bắc. Mất ngày 13.10.1988 tại Hà NộiQuang Dũng (1921 - 1989)

Theo hồi ký của Phạm Duy, Quang Dũng họ Bùi, tên thật là Bùi Đình Diệm, quê tại Phượng Trì, Sơn Tây. Ông là người rất hiền từ, chan chứa tình người như đã thể hiện qua những bài thơ của ông. Quang Dũng vừa cầm bút, vừa cầm súng, ông từng là đại đội trưởng của Trung Đoàn Thủ Đô trong công cuộc kháng chiến chống Pháp. Những tác phẩm nổi tiếng của ông trong thời kỳ này là Đôi Mắt Người Sơn Tây (Hoa Thanh Bình), Đôi Bờ, Tây Tiến, Những Làng Đi Qua... Nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã phổ nhạc bài Đôi Mắt Người Sơn Tây. Trong kháng chiến, ông cũng tham dự một cuộc triển lãm hội hoạ với mộ t bức tranh tựa đề Gốc Bàng. Ông cũng soạn nhạc, bài hát Ba Vì được dân chúng trong vùng kháng chiến hát trong nhiều năm:

Ba Vì mờ cao
Làn sương chiều xa buông
Gió về hương ngát thơm
Đưa hồn về đâu ?


Vì là gốc tiểu tư sản nên ông bị Việt Minh nghi kỵ. Ngay trong khói lửa chiến tranh, ông vẫn viết lên những lời vừa hào hùng, vừa lãng mạn:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm
...
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành


Sau 1954, ông bị kẹt lại ở miền Bắc. Ông cũng bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, và lui về ẩn thân. Về sau này, như những nhà thơ lớn khác, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh,... ông mai một và mất đi trong âm thầm trong chế độ cộng sản.
 Trích một đoạn Phạm Duy viết khi nghe tin ông mất:

-------

Tôi đã điện đàm với Nàng, báo tin buồn và ước mong có dịp gặp con người có vầng tráng mang trời quê hương và đôi mắt dìu dịu buồn Tây Phương đã từng là nguồn cảm hứng cho những bài thơ bất hủ của Quang Dũng để tôi - rất có thể - nhìn thấy những giòng lệ nhạt nhoà tuôn chảy. Những giòng lệ làm tôi hình dung ra được một con sông đào vùng tề hay cả một vùng biển lớn mang tên Thái Bình Dương lúc nào cũng sẵn sàng để chia rẽ đôi bờ cho những người tình thuộc thế hệ tôi, thế hệ đầu tiên bị chiến tranh và thù hận bao vây không ngừng nghỉ.

Quang Dũng đã nằm xuống trên một mảnh đất quê hương tôi mong rằng cũng không không xa cánh đồng Bương Cấn của anh là mấy. Thôi nhé, xin chúc anh ngủ yên trong giấc mộng thiên thu để cho chúng tôi tiếp tục buồn hộ anh nỗi buồn viễn xứ khôn nguôi...

-------
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Tran Luan on August 27, 2006, 10:13 AM
[div align=\\\"center\\\"]TIỂU SỬ TÁC GIẢ TỐ HỮU[/div]
    [/div]
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Tran Luan on August 28, 2006, 10:43 AM
[div align=\\\"center\\\"]TIỂU SỬ NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH[/div] [/color]
[div align=\\\"center\\\"] :
[div align=\\\"center\\\"]Tương Tư  
Nguyễn Bính  
(https://www.juvevn.net/proxy.php?request=http%3A%2F%2Fimg.photobucket.com%2Falbums%2Fv517%2Fjuvevn%2FTran%2520Luan%2F9327.jpg&hash=e9f2d7901701fd82c0ba54810ffe87911ddb12f2)
Thôn Ðoài ngồi nhớ thôn Ðông,
Một người chín nhớ mười mong một người,
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương Tư là bệnh của tôi yêu nàng,
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này,
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng,

Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành,
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi,

Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai hỏi ai người biết cho,
Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau,

Nhà em có một giàn trầu,
Nhà tôi có một hàng cau liên phòng,
Thôn Ðoài thì nhớ thôn Ðông,
Cau thôn Ðoài nhớ trầu không thôn nào.[/div]
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: Tran Luan on August 29, 2006, 11:02 AM
[div align=\\\"center\\\"]TIỂU SỬ NHÀ THƠ HÀN MẶC TỬ [/div]
[div align=\\\"center\\\"](https://www.juvevn.net/proxy.php?request=http%3A%2F%2Fimg.photobucket.com%2Falbums%2Fv517%2Fjuvevn%2Fhammactu.jpg&hash=2fa7720d7fce5de2732c495ccabc7e2e363e734f)[/div]

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới
Thuở nhỏ ông học trung học ở Huế (1928-1930), làm viên chức sở đạc điền ở Quy Nhơn (1932-1933), vào Sài Gòn làm báo rồi lại trở về Quy Nhơn (1934-1935).

Ông mắc bệnh phong từ năm 1937, phải vào nhà thương Quy Hòa tháng 9 năm 1940, và rồi mất ở đấy ngày 11 tháng 11 năm 1940.

Hàn Mặc Tử bắt đầu làm thơ rất sớm với thể thơ Đường luật và bút danh Minh Duệ Thị, Phong Trần; nổi tiếng vì được cụ Phan Bội Châu họa thơ và đề cao.Từ năm 1935 ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh, rồi Hàn Mạc Tử, và cuối cùng Hàn Mặc Tử.
Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản trong sinh thời tác giả), Thơ Điên (hay Đau Thương), Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, Chơi Giữa Mùa Trăng...

Hàn Mặc Tử đem đến cho Thơ Mới một phong cách độc đáo và sáng tạo: bên cạnh những tác phẩm bình dị, trong trẻo, chan chứa tình quê là các tác phẩm đầy những cảm hứng lạ lùng, huyền bí, thậm chí đến điên loạn, phản ảnh trực tiếp một tâm hồn yêu thơ, yêu đời chan chứa, nhưng lại oàn oại vì cơn bệnh đau đớn dày vò.
 
Sau đây là 1 số bài thơ tiêu biểu của ông:  
 
Anh Điên
Buồn Thu
Đây Thôn Vỹ Dạ
Đêm xuân cầu nguyện
Gái Quê
Ghen
Mùa Xuân Chín
Nỗi Buồn Vô Duyên
Trái Mùa
Trường Tương Tư
Xuân Đầu Tiên

Và em cũng xin trích bài thơ "Đây Thôn Vỹ Dạ",một bài thơ thể hiện khá rõ hồn thơ bình dị,trong trẻo và chan chứa đầy tình yêu của tác giả(mặc dù lúc này ông đã bệnh).
[div align=\\\"center\\\"]Đây Thôn Vỹ Dạ
Hàn Mặc Tử  
(https://www.juvevn.net/proxy.php?request=http%3A%2F%2Fimg.photobucket.com%2Falbums%2Fv517%2Fjuvevn%2FTran%2520Luan%2F9369.jpg&hash=cff8cdf9326248ac3f8f5bdde30f2e1c51c4e7ed)
Sao anh không về chơi thôn Vỹ ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay ...
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra ...
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?[/div]
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: juverofan on September 12, 2006, 12:14 PM
Tản Đà ------ Nguyễn Khắc Hiếu

Tản Đà (1889-1939) là đại biểu cuối cùng của "thế hệ các nhà thơ lớp cũ", sinh thời được chứng kiến sự "lên ngôi" của Thơ Mới vào đầu những năm 30

Sau Nguyễn Khuyến và Tú Xương, Tản Đà chính là người tiếp tục phất ngọn cờ của văn chương Việt Nam thời kì cận đại . Chúng ta dễ dàng nhận thấy có sự tương đồng và sự kế thừa về nhiều mặt giữa Tản Đà và Tú Xương, cũng như nhận thấy có sự cách bức phá rõ rệt giữa Tản Đà và Thơ Mới .

Chúng ta đã biết ba yếu tố không thể thiếu đối với một nhà thơ hoàn thiện là : trí tuệ phong phú, tài sáng tạo thơ, vào chất lãng tử trong tâm hồn . Tản Đà cũng như Tú Xương có đủ cả ba cái tính chất ấy .

Tuy nhiên có một khác biệt khá rõ : với Tú Xương, cái "công danh" đích thực của một đời dường như nằm vào con đường khoa cử, đỗ đạt, còn với Tản Đà cái công danh đó hoàn toàn đặt ở sự nghiệp văn chương, ở "chức phận thiêng liêng" : chấn hưng nền văn học nước nhà .

Suốt một đời, Tản Đà long đong lận đận, sống chết với nghiệp văn, nghiệp thơ, nghiệp báo . Con tằm Tản Đà đã nhả tới sợi tơ cuối cùng cho văn chương, cho đến lúc "thân anh đã xác như vờ " ...

Cũng như Tú Xương, Tản Đà là một hiện tượng hết sức thú vị trong làng văn Việt Nam .

Cái sức mạnh làm nên sự bất tử của Tản Đà không chỉ nằm trong khối tác phẩm đồ sộ ông để lại cho đời, mà trước hết nằm ở phong cách sống rất mực độc đáo của ông giữa cuộc đời .

Điều nổi bật nhất ở hình tượng "thi sĩ Tản Đà" là một con người dám sống hết mức bằng chính bản ngã riêng biệt của mình . "Cái tôi " đã được manh nha từ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát thực sự "bước lên vũ đài " với Tú Xương, thì nay đạt tới đỉnh cao với Tản Đà .

"Cái tôi" ấy là sự đối lập tương đối giữa cá nhân Tản Đà với thời cuộc,với thiên hạ . "Cái tôi" ấy đã "gặp thời ", được đông đảo quần chúng thích thú hoan nghênh, cổ vũ, vì chính là cú "xì hơi " cực kì khoái trá của nhân bản bị bóp nghẹt hằng bao nhiêu thế kỷ !

Thơ văn Tản Đà khác nào một luồng gió mạnh ào ạt thổi vào lòng một nhân gian đang ngái ngủ vì đau khổ ê chề, vì chán chường mệt mỏi, trong cảnh sống nô dịch, phong hóa suy đồi . Luồng gió ấy mang trong nó cái ý thức của nhân quyền vừa được lay thức dậy, mang theo cả cái "ngông", sản phẩm cúa lòng tự tôn cá nhân và lòng khao khát "sống cho ra sống", mang tầm vóc về trí tuệ và tâm hồn vốn có sẵn nơi con người của một đất nước ngàn năm văn hiến:

Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng !

Hình tượng "thi sĩ Tản Đà" đứng giữa núi non hùng vĩ mới sảng khoái làm sao:

Ta nhớ ai mà đứng mãi đây
Nước rợn sông Đà con cá nhảy
Mây trùm non Tản cái điều bay .


Những phút xuất thần của một tâm hồn lãng mạn:

Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán
Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong !


Tản Đà là người tuyên bố cái châm ngôn "sống phải biết hưởng thụ lạc thú của cuộc sống" :

Trời đất sinh ra rượu với thơ
Không thơ không rượu sống như thừa .


Ông cũng khẳng định giá trị thực của cuộc sinh tồn:

Trăm năm thơ túi rượu vò
Nghìn năm thi sĩ, tửu đồ là ai ?


Tuy nhiên con người Tản Đà không chỉ sắc nét ở cá tính mạnh mẽ, mà còn ở tính chất xã hội, tính chất công dân sất sâu đậm . Ông chính là mẫu người "sống để cống hiến hết mình" cho cộng đồng . Tấm lòng ưu thời mẫn thế của ông không thua kém các nhà chí sĩ yêu nước lúc bấy giờ :

Nọ bức dư đồ thử đứng coi
Sông sông núi núi khéo bia cười !
Biết bao lúc mới công vờn vẽ
Sao đến bây giờ rách tả tơi ?
... Thôi thôi có trách chi đàn trẻ
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi !
(Vịnh bức địa đồ rách)

Lo vì tin nước đã lưng sông
Đâu đó đê điều có vững không ?
Con cháu Rồng Tiên đang đó dở
Không hay Hà Bá có thương cùng ?
Lo vì xã hội thiếu tiền tiêu
Một kẻ phong lưu chín kẻ nghèo
(Hủ nho lo việc đời )


Tản Đà cũng là con người hiếm hoi dám ngạo nghễ đứng lên công kích vạch mặt bọn tham quan ô lại, bọn sâu mọt của dân:

Khen cho đá cũng bền gan thật
Đứng mãi cho quan đục mấy lần
(Nhắn Từ Đạm)

Đục nước năm nay cò lại béo
Bao nhiêu đê vỡ bấy nhiêu tiền
(Nhớ cảnh nước lụt ở Bắc )


Cái tâm huyết của Tản Đà với dân tộc và đất nước đã khẳng định vị thứ của ông trước lịch sử:

Ứa bốn bể đôi hàng lụy ngọc
Gầy ba đông một vóc xương mai !
Ơn nhà nợ nước hai vai
Nước nhà ai để riêng ai nặng nề ?
Trông mây nước bốn bề lạnh ngắt
Ngắm non sông tám mặt sầu treo
Đường xa gánh nặng bóng chiều
Cơn giông biển lớn, mái chèo thuyền nan .
Nghĩ thân thế mềm gan lắm lúc
Nhìn giang sơn bạc tóc như chơi .......
(thư lại trách người tình nhân không quen biết)


Và cuối cùng, những câu thơ đầy thương cảm của Tản Đà với số phận của bao người nơi "bể khổ trần gian" đã cho thấy tấm lòng nhân ái vô hạn của thi sĩ, không khác gì Nguyễn Du xưa kia thương xót thập loại chúng sinh:

_Anh thương em má lúm đồng tiền
Phấn son chẳng biết, con thuyền lênh đênh ...
_Ngoài xa trơ một đống đất đỏ
Hang hốc đùn lên đám cỏ gà
Người nằm dưới mả ai ai đó ?
Biết có quê đây hay vùng xa ?
_Đã sinh ra ở nhân hoàn
Lao tâm lao lực một đòan khác chỉ
_Những người khố rách áo ôm
Mồ hôi đổi lấy bát cơm no lòng ...


Cái tình mà Tản Đà để lại trong lòng người thật sâu nặnng ! Nguyễn Thiếp xưa có câu "Dân thường không mến nhớ, lại mến nhớ kẻ có nhân" . Tản Đà được đời nhớ mãi, phải chăng vì ông rất giàu lòng "nhân" ấy ?

*********************

Về nghệ thuật, Tản Đà nói rất đúng về mình:

Văn chương thời nôm na

Nhưng theo chúng tôi, những nhà văn nhà thơ được cả dân tộc suy tôn hơn hết chính là những người sớm ý thức được chân giá trị của tiếng nói dân tộc mình . Tản Đà vốn là một nhà Hán học cự phách, nhưng ông hầu như chỉ sáng tác thơ nôm . Và mặc dầu ông thừa khả năng viết những câu thơ "lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu" như :

Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương .......


Nhưng ông lại thường viết những bài thơ mộc mạc khác thường, để mọi người đều hiểu, đều có thể "nhâm nhi" được

Bấy lâu nay anh nghe tiếng má đào
Mà thề có thấy một cô nào, anh cũng đui !
(Xẩm chợ )

Do hạn chế của thời đại nên nói chung thơ Tản Đà còn hòan toàn mang phong cách "cổ", với các thể thơ và ngôn ngữ thơ truyền thống . Mặc dù vậy, ở thời Tản Đà, không ai đạt được tới chất lượng như thơ Tản Đà, không thứ thơ nào có khả năng đi vào quần chúng sâu rộng như thơ Tản Đà . Do đó, Tản Đà trở thành nhà thơ lớn nhất của văn học Việt Nam ở thời kỳ sau Tú Xương, trước thơ mới.
Title: Vài dòng về các nhà thơ VN
Post by: juverofan on September 12, 2006, 04:01 PM
Lo Văn Ế
-Tản Đà-

Nhà tớ xưa nay vốn vẫn nghèo
Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu
Quanh năm luống những lo văn ế
Thân thế xem thua chú hát chèo

Hát chèo lắm lúc nghĩ mà ngoan
Vẽ mặt ra trò với thế gian
Vợ cưới đêm nay, mai lại cưới
Đêm đêm cưới vợ lại làm quan !

Làm quan ví có dễ như chèo
Tớ đến năm nay đã chẳng nghèo
Bởi bước công danh trèo cũng khó
Trèo leo chẳng được phải nằm meo .

Nằm meo cho tớ nghĩ ra văn
In bán ra đời cách kiếm ăn
Tiền kiếm, ăn xong nằm lại nghĩ
Con tằm rút ruột lá dâu xanh

Dâu xanh rút giả sợi tơ vàng
Thân thế con tằn những vấn vương
Tớ nghĩ thân tằm như tớ nhỉ
Tơ tằm như tớ mới văn chương

Văn chương rút ruột kiếm xu tiêu
Nghề nghiệp làm ăn khó đủ điều
Tốn kém vì văn ai có biết
Cứ tiền giấy mực hết bao nhiêu !

Văn chương nào dám nói hơn ai ?
Nghề nghiệp làm ăn phải thế thôi
In hết quyển này ra quyển khác
Có văn có ích, có văn chơi .

Văn chơi in bán để chơi chung
Dãu đu8Ợc lời riêng có mấy đồng !
Buôn chữ gặp ngay khi giấy đắt
Người mua ai có biết cho không ?

Cho không ai biết đấy là đâu
"Bán nói " khi đâu dám đặt điều ?
Tốn kém vì văn chưa tính đến
Những tiền giấy mực đã bao nhiêu !

Bao nhiêu củi nước mới thành văn
Được bán văn ra chết mấy lần
Ông chủ nhà in in đã đắt
Lại ông hàng sách mấy mươi phân

Mười phân gửi bán lấy tiền sau
Bán hết thu tiền đợi cũng lâu
Lắm lúc túng tiền đem bán rẻ
Trừ đầu trừ cuối nghĩ càng đau

Càng đau mà vẫn phải càng theo
Theo mãi coh nên vẫn cứ nghèo
Nghèo chỉ có văn, văn lại ế
Ế văn cho tớ hết tiền tiêu !

Tiền tiêu không có những băn khoăn
Vay ngược vay xuôi thật khó khăn
Công nợ nhà in còn chất đống
Còn đâu gan ruột nghĩ ra văn

Ra văn mà bán chẳng ra tiền
cái nghiệp văn chương nghĩ thật phiền
Văn ế bao giờ bán hết
Phen này có nhẽ gánh lên tiên

1921

Wanting to be “Cuội”

 

How gloom is the autumn night, dear Sister Moon!

I am again so bored with this earthly world.

Has there been anyone sitting in your royal palace yet?

If not, pick me up by your banyan branch.

We can be friends ; don’t feel sorry for yourself .

We can play with the winds and frolic with the clouds.

And then every year, on the fifteenth day of August

You and I will just recline,

Laughing at what’s going on down there.


Muốn làm thằng Cuội

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,

Trần thế em nay chán nữa rồi.

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Có bầu, có bạn, can chi tủi,

Cùng gió, cùng mây, thế mới vui..

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng Tám,

Tựa nhau trông xuống thế gian cười.